Tới nội dung

IPB Style© Fisana
 




Halona999

Thành viên từ 29 Aug 2017
Hiện tại Không trực tuyến
OFFLINE Hoạt động cuối Sep 15 2017 10:26 PM
-----

Chủ đề tôi đăng

Vì sao Phật nói: Mọi thứ trên thế gian này chỉ giống như bóng trăng trên mặt nước?

15 September 2017 - 10:22 PM

Câu chuyện thứ nhất
Alexander Đại đế là một vị vua vĩ đại. Trên đường khải hoàn sau khi chinh phạt nhiều nước, ông ngã bệnh. Vào thời khắc ấy, những vùng đất ông chiếm được, quân đội hùng mạnh, những thanh gươm bén, và sự giàu có không còn nghĩa lý gì với ông. Ông nhận ra rằng cái chết sắp sửa đến và ông sẽ không về kịp mảnh đất quê hương. Ông bảo các sỹ quan của mình: “Ta sắp sửa rời bỏ thế gian này. Ta có ba điều nguyện ước. Các ngươi cần phải thực hiện những gì ta bảo”. Các vị tướng tuân lệnh trong dòng nước mắt.
“Điều ước đầu tiên của ta là hãy bảo thầy thuốc của ta mang cái hòm rỗng của ta về một mình”. Sau khi cố hít thở một hơi, Alexander nói tiếp: “Ước nguyện thứ hai của ta là hãy rải vàng, bạc và châu báu trong kho tàng của ta trên suốt dọc đường đến nấm mồ khi các ngươi mang quan tài của ta ra nghĩa địa”. Sau khi quấn mình trong chiếc áo khoác và nghỉ một lúc, ông nói tiếp: “Ước muốn cuối cùng của ta là hãy đặt 2 bàn tay của ta ra bên ngoài cỗ quan tài”.
Mọi người xung quanh ông tất cả đều rất tò mò, nhưng không ai dám hỏi nguyên nhân. Vị sủng tướng của Alexander hôn bàn tay ông và hỏi: “Thưa đức Vua, chúng thần sẽ làm theo mệnh lệnh của Ngài. Nhưng Ngài có thể cho chúng thần biết tại sao Ngài lại muốn chúng thần làm như vậy hay không?
Sau khi gắng thở một hơi dài, Alexander trả lời: “Ta muốn mọi người hiểu được ba bài học mà ta đã học được.
Ta để cho người thầy thuốc đưa cỗ quan tài về một mình là để người ta nhận ra rằng một vị thầy thuốc không thể nào thực sự chữa bệnh cho người ta. Nhất là khi đối diện với cái chết, thầy thuốc hoàn toàn bất lực. Ta hy vọng mọi người sẽ học được rằng phải trân quý cuộc sống của họ.
Mong ước thứ hai của ta là để nhắn nhủ mọi người rằng không nên giống như ta, theo đuổi giấc mộng giàu sang. Ta đã tiêu tốn cả đời để chạy theo sự giàu có, nhưng cuối cùng, ta nhận ra rằng mình đã lãng phí hầu hết thời gian của đời người.
Mong ước thứ ba của ta là để người đời hiểu rằng ta đến thế gian này với hai bàn tay trắng và ta sẽ rời bỏ thế gian này cũng với hai bàn tay trắng”, nói xong ông nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.
Câu chuyện thứ hai:
Ngày xưa, ở Ấn Độ cổ có một người đàn ông vì chán ghét cõi hồng trần nên đã tìm đến cửa Phật.
Mặc dù vậy, nhưng ông vẫn còn nhiều ham muốn với thế gian. Ông thường tắm nước nóng và dùng dầu thơm để sát lên thân thể, khi đi xin ăn cũng lựa chọn những nhà giàu để xin, tâm hồn bị chôn vùi sâu trong vật chất, như bị dây mơ trói thân thể vậy, không lúc nào tự tại. Mặc dù trên hình thức ông đã xuất gia, thụ giới, nhưng về hành vi và cảnh giới thì vẫn là phàm phu tục tử, cách thánh đạo Niết Bàn còn xa lắm.
Một hôm, khi đang chuẩn bị đi ra ngoài khất thực, vị sư này thấy các tỳ kheo bàn tán sôi nổi về một Tôn giả có tên là Upagupta, một nhà sư nổi tiếng đạo hạnh cao thâm, đang trú ngụ tại nước Ma La. Vị tỳ kheo mới xuất gia này rất tò mò về tôn giả Upagupta nên quyết định tới diện kiến.
Vừa nhìn thấy vị tỳ kheo, Tôn giả Upagupta liền hỏi: “Ông không quản đường xá xa xôi tới đây làm chi?”
“Tôi mộ danh ngài mà tới. Mong được nghe Tôn giả từ bi khải thị yếu chỉ Phật Pháp.
Tôn giả Upagupta quan sát vị tỳ kheo một lúc, biết người này căn cơ thâm hậu, chẳng qua vẫn còn bị ái dục trói buộc nên mới thành ra như vậy, bèn hỏi: “Ông có thể hoàn toàn nghe theo lời giảng của ta, chấp nhận giáo huấn của ta, chiểu theo ý chỉ của ta mà làm hay không?”
“Tôi nhất định có thể, hết thảy đều chiểu theo lời dặn dò mà làm”, vị tỳ kheo dập đầu trả lời.
“Nếu ông có thể sinh tín tâm, trước tiên ta sẽ dạy ông thần thông, sau đó thuyết Pháp cho ông”, Tôn giả Upagupta cười nói.
“Học thần thông trước, tuyệt quá.” vị tỳ kheo sung sướng reo lên.
Sáng sớm hôm sau, tôn giả Upagupta dẫn vị tỳ kheo lên núi, trước tiên dạy ông học tập thiền định sau lại dặn ông phải tuyệt đối phục tùng mới có thể đắc chính quả. Sau khi thuyết giảng một hồi, Tôn giả Upagupta vận dụng lực thần thông, hóa ra một cây đại thụ, rồi bảo: “Ông cần phải trèo lên cái cây này.”
Vị tỳ kheo “dạ” một tiếng rồi nhanh chóng trèo lên cây đại thụ. Lên được nửa chừng, cảm thấy thấm mệt, vị tỳ kheo liền dừng lại, lấy vạt áo lau mồ hôi, bất giác nhìn xuống thì không khỏi giật mình khi thấy một cái hố lớn xuất hiện ở dưới đó từ khi nào, sâu không thấy đáy.
Tôn giả Upagupta ngồi đả tọa ngay cạnh miệng hố, cười bảo:“Giờ hãy thả hai chân của ông ra“. Vị tỳ kheo run cầm cập, không biết phải làm sao, đành cắn răng, buông thõng hai chân.
“Buông nốt hai tay của ông ra nữa”, Tôn giả Upagupta cất tiếng.
Vị tỳ kheo “dạ” một tiếng nhưng rồi cũng chỉ dám buông một tay.
“Ông hãy buông nốt cả tay kia ra.”
“Nếu lại bỏ tay ra, sẽ rơi xuống hố mà chết”, vị tỳ kheo sợ hãi.
“Ông đã có lời ước hẹn với ta, hết thảy tuân theo dạy bảo của ta, giờ lại hối hận rồi sao?”
Vị tỳ kheo không còn cách nào khác, đành buông tâm không nghĩ gì nữa, vừa buông tay kia ra liền rơi vào cái hố sâu, vừa sâu hoắm vừa đen ngòm. Lúc này ông hồn xiêu phách lạc, toàn thân lạnh ngắt, nhưng khi mở mắt ra nhìn thì thấy cái cây và chiếc hố đã biến đâu mất, chỉ thấy Tôn giả Upagupta đang ngồi trước mặt mình, nhìn ông một cách từ bi: “Giờ ta hỏi ông, khi ông rơi xuống cái hố đó, ông còn thấy thế gian có gì đáng để thích nữa không?”
“Tôn giả, đã tới bước ngoặt sinh tử, hết thảy đều không còn gì ưa thích nữa”.
Là như thế. Hết thảy mọi thứ thế gian đều là hư ảo hết. Khi sắc thân ảo diệt, ái dục cũng theo đó mà ảo diệt. Nếu ông có thể nhìn thấu sắc thân vô thường, thoát khỏi ái chấp trói buộc, thì sẽ giải thoát khỏi nó. Ưa thích là căn nguyên của phiền não sinh tử, hãy cẩn thận với nó, tinh tấn tu hành, chớ mất bản tâm, sẽ thành chính Đạo.”
Vị tỳ kheo lúc này đột nhiên tỉnh ngộ, từ đó tĩnh tâm suy ngẫm, chuyên cần tinh tấn, cuối cùng chứng đắc quả vị La Hán.
Suy ngẫm:
Thực ra, phú quý hay bần tiện trên thế gian cũng như một dòng nước chảy. Nó không ngừng thay đổi vào mỗi thời khắc. Đối diện với sinh-lão-bệnh-tử trong đời người, thì giàu hay nghèo của con người thế gian dường như vô lực. Thế nên đôi khi tôi cảm thấy rằng không có gì trong thế giới này có thể dựa vào, kể cả tiền bạc, quyền lực, tình cảm và thậm chí là cả sức khỏe. Tất cả mọi thứ giống như là bóng trăng trên mặt nước. Mặc dù chúng ta theo đuổi những điều này không biết mệt mỏi, chúng ta thấy rằng cuối cùng chúng chỉ là tạm thời. Không có gì trong những thứ này là điều quan trọng nhất trong đời người.

Cuối cùng xin kết thúc bằng một bài thơ có tên là “Tỉnh mộng” của tác giả Minh Tịnh:
Luân hồi chuyển thế mấy nghìn năm
Đến đến đi đi tại cớ gì?
Công danh lợi lộc nào giữ mãi
Thế đạo hưng suy định bởi Trời.
Sinh mệnh vốn là Tiên thiên thượng
Thành bại trong đời mây khói bay.
Thị phi vốn là ân oán trước,
Đắc Pháp tỉnh mộng về cố hương.

Phong Vân

Văn Hóa Truyền Thống: Tránh Sắc Như Tránh Tên, Phú Quý Con Cháu Hưng

13 September 2017 - 04:15 PM

Lữ Thanh sống vào triều Minh, thường ngày ưa thích đàm luận việc dâm ô và nhìn trộm phụ nữ; khi anh ta được 30 tuổi, gia cảnh bần cùng đến cực điểm, hai người con đều lần lượt qua đời.
Một ngày kia, Lữ Thanh đột nhiên chết bất đắc kỳ tử và nhìn thấy ông nội rất tức giận, nói với anh ta: “Nhà chúng ta hai thế hệ đều tích thiện, mệnh của cháu lẽ ra phát tài lớn; chẳng ngờ đến cháu, tâm ưa sắc đẹp, mắt miệng đều tạo nghiệp chướng, phúc báo đều sắp cạn sạch rồi. Ta e rằng cháu sẽ thật sự phạm phải việc tà dâm, như thế hậu duệ cả nhà chúng ta sẽ không còn hy vọng gì nữa; do đó ta mới cầu xin Diêm vương bắt cháu xuống âm tào địa phủ để xem xem, cho cháu biết lợi hại thế nào!”
Lữ Thanh nói: “Nghe nói tư thông với vợ người khác mới phải nhận báo ứng là tuyệt tự; sự thật cháu rất sợ nhận phải báo ứng này nên mới chưa từng phạm phải!”
Vị Minh lại đứng bên cạnh nói: “Há chỉ là tuyệt tự không thôi! Nếu như là người nữ chủ động đến cám dỗ mà tự mình thuận theo chứ không chối từ, thì tội nghiệt này chính là báo ứng tuyệt tự. Còn nếu là tự mình dụ dỗ thúc ép người ta, hơn nữa tái phạm nhiều lần, làm bại hoại luân thường người ta, khiến người ta phá thai, thậm chí giết chồng giết con, thì chính là đại tội, há chỉ là tuyệt tự không thôi? Đối với tội tà dâm, pháp luật ở thế gian quá ư khoan hồng, thế nhưng pháp luật ở âm gian lại rất nghiêm khắc. Phàm là người hễ động dục niệm tà dâm, thì ba thần xác sẽ đến tự thú, Táo quân và Thành hoàng sẽ đến trình tấu sự thật; nếu như họ giấu diếm hoặc bỏ sót, thì cũng là lỗi nặng! Ngươi thử xem hôm nay xử trí thế nào thì sẽ rõ ngay.”
Một lúc sau, đám quỷ tốt đưa rất nhiều phạm nhân từng phạm tội tà dâm đến trước mặt; họ đều đeo xiềng xích, quỳ trên mặt đất; Diêm vương nghiêm khắc phán: “Người này biến thành kẻ ăn xin vừa điên vừa câm, người này biến thành kỹ nữ mù mắt, người này hai đời làm trâu, người này mười đời làm heo.” Diêm vương phán xét xong xuôi, đám quỷ tốt lại áp giải họ đi đầu thai.
Lữ Thanh xem xong sợ đến sởn cả gai ốc. Vị Minh lại nói: “Còn có nhiều trừng phạt nghiêm khắc hơn nhiều! Ngươi nhất thiết không được vì chốc lát thèm muốn hoan ái mà đánh mất thân người, cần phải tránh sắc như tránh mũi tên, đồng thời mau chóng in bài văn để khuyên răn người đời!”
Một lúc sau, Diêm vương lệnh thả Lữ Thanh về dương gian. Lữ Thanh in một vạn bài viết du địa phủ để cảnh tỉnh thế nhân, lại rất cố gắng làm việc thiện.
Khi Lữ Thanh được 40 tuổi thì liên tục sinh hai người con, gia tài lên tới bạc triệu, giàu có phi thường. Lữ Thanh sau đó quyết định đoạn tuyệt duyên trần, đi về Nam Hải tu Đạo.
Đây là đồng hương Thái Tinh của Lữ Thanh ghi lại. (theo Chánh Kiến)

Gương người xưa: Cự tuyệt dâm bôn, kéo dài tuổi thọ

13 September 2017 - 04:11 PM

Người xưa đều rất chú trọng tu dưỡng đạo đức nhân luân, cũng tin rằng hành thiện là phải lấy thủ đức bất tà dâm làm trọng. Người có thể nhìn sắc mà bất tà dâm ắt sẽ tích đại âm đức (*), được đại phúc báo.
Vào triều Minh, ở Ninh Ba tỉnh Chiết Giang có một thư sinh tên là Tôn Đạo, do gia cảnh bần hàn nên lấy việc dạy dỗ trẻ con làm nghề nghiệp kiếm sống. Sau đó vì không giữ được chức nghiệp này, bèn gửi thân nơi nhà họ Trương ở Đường Tây, giúp sao chép viết lách, đổi lấy chút cơm áo sống qua ngày. Tuy thân trong cảnh thanh bần, nhưng trước sau vẫn kiên trì chính trực, không thay đổi tiết tháo thanh bạch của mình.
Một hôm lúc đêm khuya, nhà họ Trương có một nữ tỳ, lớn lên có chút nhan sắc, nhìn thấy Tôn Đạo tuy ăn mặc giản dị nhưng mặt mày khôi ngô tuấn tú, cử chỉ nho nhã, bất giác xuân tình dập dờn, mới lẻn vào phòng Tôn Đạo định gạ gẫm quan hệ bất chính. Tôn Đạo sau khi biết ý đồ cô gái, liền dùng lời lẽ nghiêm khắc cự tuyệt: “Cô nương hãy bỏ ngay ý nghĩ sai lầm ấy! Phải biết quý trọng thanh danh của mình chứ! Tôi là người đọc sách Khổng Mạnh, nghe theo lời dạy nam nữ thụ thụ bất thân, lẽ nào đi làm cái việc thú tính đồi phong bại tục như thế! Xin cô mau đi đi cho!” Nói rồi trừng mi trợn mắt, mở rộng cửa để cô gái bước ra. Cô nữ tỳ đành chịu, thẹn thùng bước ra cửa mà đi.
Nào ngờ cảnh này đã bị ông thầy tư thục phẩm hạnh không đoan chính của nhà họ Trương thấy được. Ông ta thấy cô gái mỹ miều như hoa, nên lợi dụng cơ hội này tìm cớ lén hẹn hò cô nữ tỳ. Sau khi làm việc cẩu thả không lâu, ông thầy tư thục bỗng nổi mụn nhọt, không thuốc trị được, đau quá bèn bỏ dạy về nhà điều trị. Quả báo tà dâm đến ngay lập tức, quả nhiên rõ như ban ngày! Lẽ nào chưa đủ khiến người đời sau lấy làm gương?
Vị thầy tư thục đi rồi, chủ nhà mời Tôn Đạo làm thầy dạy con của họ. Một ngày nọ, Tôn Đạo chạm mặt người chú ở Giang Khẩu. Người chú kinh ngạc nói: “Có một việc kỳ quái mà ta tìm cháu để nói. Vì con ta mắc bệnh nặng, ta đến miếu hoàng thành cầu khấn, tối hôm ấy ta có một giấc mộng rõ ràng. Mộng thấy lão thành hoàng ngồi trên điện, hô hoán thuộc hạ cải mệnh cho một số người được định sẵn là sẽ bị chết đói. Khi đọc đến khoảng người thứ mười mấy, ta nghe thấy tên cháu. Ta trộm hỏi vị minh quan, vì sao Tôn Đạo có thể cải mệnh? Minh quan nói: ‘Bản mệnh người này, năm 46 tuổi sẽ chết đói ở xứ người. Vì đêm ngày 18 tháng 4 năm nay, anh ta nghiêm khắc cự tuyệt dâm bôn với tỳ nữ, tích được đại âm đức, bởi thế kéo dài thọ mệnh hai kỷ (một kỷ là 12 năm), đổi từ chết đói thành lộc tịch’. Cháu nhớ lại xem, có đúng cháu từng cự tuyệt tỳ nữ dâm bôn hay không?”
Tôn Đạo lặng lẽ gật đầu thừa nhận là có chuyện đó.
Sau đó, thuận theo việc học sinh theo học Tôn Đạo ngày càng nhiều, tiền học học sinh nộp mỗi năm mấy trăm lạng bạc. Đến năm Vạn Lịch thứ 36 triều Minh, Tôn Đạo 46 tuổi, cũng chính là năm cần cải mệnh chết đói, quả nhiên xảy ra mất mùa, giá gạo trở nên rất đắt, người nghèo hoàn toàn không có tiền mua, khi ấy người chết đói rất nhiều. Tuy nhiên Tôn Đạo không chỉ thoát được kiếp này, mà cuộc sống còn hết sức dư dả. Đến những năm cuối đời, phủ họ Tôn đã trở thành cự phú, ứng nghiệm với điều mà minh quan gọi là “lộc tịch”. Năm 70 tuổi, ứng nghiệm với câu “kéo dài thọ mệnh hai kỷ”, Tôn Đạo không bệnh mà mất.
Từ đó mà thấy, đúng là:
Trên đầu ba thước có trời xanh, Hành vi phòng kín Thần nhìn rõ;
Cự nữ dâm bôn âm đức lớn, Thọ thêm hai kỷ bất hư truyền;
Xin khuyên người đời mau thủ đức, Trời ban Thần tặng phúc lộc toàn.
Ngẫm chuyện xưa xét việc nay mà cảm khái vô cùng. Dưới sự đầu độc của thuyết vô thần, hiện nay ở Trung Quốc, quan viên hủ bại, tham lam tột độ, dân chúng cũng bị cuốn theo, trong dòng dơ bẩn của đồi trụy mà như cá gặp nước, tự cảm thấy vui vẻ lắm. Nào là tình dục ngoài hôn nhân, tình một đêm, bao bồ nhí, ở với nhau không cần kết hôn, sống thử, v.v. có thể nói là loạn bát nháo cả rồi.
Vạn ác dâm vi thủ, thiện ác hữu báo thị thiên lý, đây là định luật bất di bất dịch của Trời, không phụ thuộc ý chí con người. Vậy thì thử nghĩ xem: cổ nhân cự nữ dâm bôn tích đức được phúc báo thọ thêm hai kỷ, phóng túng tà dâm tổn âm đức gặp phải báo ứng như thế nào? Hỡi những ai lạc đường, hãy mau thanh tỉnh đi thôi! Triệt để vứt bỏ hành vi tà dâm đồi bại, trở về khí tiết chính đạo trọng đức, chính khí trời đất trường thịnh bất suy, thì may mắn lắm thay! (Theo Chánh Kiến)
(*) âm đức: người xưa cho rằng việc làm nhân đức trên dương gian đều được ghi công ở âm phủ.

Ý nghĩa của luân hồi là gì?

13 September 2017 - 03:59 PM

Linh hồn hoặc nguyên thần của một người sẽ rời khỏi thân thể khi sinh mệnh kết thúc, và sẽ một lần nữa xuất hiện ở một sinh mệnh khác, quá trình này gọi là luân hồi.
Hiện nay ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy đại não của con người chỉ là một công cụ xử lý tư duy mà không phải là nguồn gốc sinh ra ý thức. Gần đây, Bác sĩ Sam Parnia thuộc trường Đại học Southampton ở Anh trong một kết quả nghiên cứu đã chứng minh đầy đủ luận điểm này.
Dick Sutphen là một nhà tâm lý học nổi tiếng. Ông đã tiến hành quan sát và nghiên cứu kỹ càng đối với những người có trí nhớ về luân hồi, và ghi lại kết quả trong cuốn sách “Tình yêu tiền định” (Predestined Love) và “Liệu pháp nhớ lại kiếp trước” (Past-life Therapy in Action).
Nghiệp lực là nguyên nhân sinh ra luân hồi, và mỗi một lần luân hồi cũng đều là vì cân bằng đức và nghiệp lực.
“Đức” (virtue) là làm việc tốt mà có được, sinh mệnh ở trong luân hồi sẽ được ban thưởng. Chẳng hạn: khoẻ mạnh, sự nghiệp thành công, tình yêu mỹ mãn, gia đình hoà thuận, v.v. Mặc dù những điều đó là được ban thưởng trong luân hồi, nhưng sinh mệnh cũng cần phải học tập. Ví dụ, phải chăng bạn dùng cơ hội của bạn để giúp đỡ người khác, bạn đối đãi với tiền tài của bản thân như thế nào. Thái độ của bạn đối với danh và lợi trong cư xử với người khác sẽ quyết định bạn có thể tiếp tục hưởng thụ những điều bạn đang sở hữu hay không, cùng với vận mệnh trong lần chuyển thế tiếp theo của bạn.
“Nghiệp lực” (karma) là lúc bạn làm việc không tốt mà nhận được, và cách hoàn trả nghiệp nhanh nhất là cho bạn trực tiếp trải nghiệm hậu quả do việc xấu bạn đã làm. Nói ví dụ, kiếp này bạn cùng khốn lao đao, hơn phân nửa là vì kiếp trước bạn đã lạm dụng tiền của để làm việc ác. Nhưng đồng thời cũng khảo nghiệm bạn, xem bạn khi ở trong hoàn cảnh cuộc sống bi thảm đến nỗi khiến bạn muốn tự tử, xem bạn có thái độ đối đãi đúng đắn hay không. Nếu bạn dùng một loại tâm tính bình tĩnh mà đối mặt với những điều bất công trong cuộc sống, những hoạn nạn đã được sắp đặt sẵn trong vận mệnh của bạn, thì nghiệp lực của bạn cũng theo đó mà hoàn trả.
Trong lúc chuyển thế hết lần này đến lần khác, sinh mệnh không ngừng hoàn thiện mình. Nếu như một sinh mệnh trong quá trình này không ngừng hoàn trả nghiệp và tích đức, sinh mệnh đó sẽ trở nên càng ngày càng thành thục, ngày càng thuần khiết tốt đẹp. Khi sinh mệnh có thể đồng hoá với đặc tính của vũ trụ, thì sẽ có thể thăng lên.
Theo Dick Sutphen, nghiệp lực được chia thành năm loại:
1. Nghiệp cân bằng (Balancing karma)
Đây là hình thức đơn giản nhất, là một loại quan hệ nhân quả cứng nhắc.
Có một người tại đời trước đã đối xử tàn nhẫn với người khác, anh ta cần học giá trị trong mối quan hệ giữa người với người. Ở kiếp này, anh ta sẽ rất cô độc, anh ta cũng rất khó tìm được tình bạn vui vẻ. Hoặc ví như, có một người ở đời này luôn không được thăng chức, là vì anh ta ở đời trước đã phá hỏng cơ hội thăng chức của người khác. Một phụ nữ mắc bệnh đau nửa đầu vô cùng nghiêm trọng, là vì cô ta ở kiếp trước xuất phát từ ghen tuông đã dùng hung khí đánh vào đầu người yêu cho đến chết. Có một người sinh ra mắt đã mù, là vì ở đời trước anh ta làm lính La Mã đã làm mù mắt của một người tù nhân Cơ Đốc giáo.
2. Nghiệp lực tự thân (Physical karma)
Nghiệp lực tự thân là kết quả của việc lạm dụng thân thể ở đời trước, và hoàn trả nghiệp lực phần nhiều sẽ biểu hiện trên bộ phận tương ứng. Nghiệp lực tự thân hơn phân nửa là vì chuyển thế quá nhanh, khiến sinh mệnh trong quá trình chuyển sinh có mang vết thương. Một đứa trẻ sinh ra đã mắc bệnh phổi, là vì nó ở đời trước đã từng có tiền sử chết do ung thư phổi vì hút thuốc. Còn có một người, trên thân thể xuất hiện bớt làm mất nhan sắc, là vì vết bỏng nghiêm trọng trong đời trước di lưu lại.
3. Nghiệp lực giả sợ hãi (False-fear karma)
Nghiệp lực giả sợ hãi đến từ việc bị thương trong sinh hoạt ở kiếp trước, nhưng không có quan hệ nhiều với kiếp này.
Ví dụ như, có một người nghiện làm việc hồi ức lại tiền kiếp mình từng sống trong thời kinh tế khủng hoảng không cách nào nuôi sống gia đình, anh ta đã tự tay chôn đứa con chết vì đói. Kết quả là ở đời này, anh ta vô ý thức mà tránh cho việc đó không được lặp lại. Vì vậy, loại động lực nội tại này khiến anh ta làm việc ngày đêm không nghỉ ngơi, để bảo đảm cuộc sống gia đình không gặp trở ngại.
Nghiệp lực giả sợ hãi cùng nghiệp lực giả tội nói ở bên dưới là dễ dàng thông qua trị liệu kiếp trước (past-life therapy) mà giải quyết. Bởi vì một bệnh nhân một khi hiểu được nguyên nhân của loại cảm giác sợ hãi và tội lỗi này, họ sẽ không quá mức cố giữ cảm giác sợ hãi và tội lỗi khó hiểu này.
4. Nghiệp lực giả tội (False-guilty karma)
Cảm giác giả tội là do vết thương hoặc gặp sự cố trong sinh hoạt ở đời trước, nhưng anh ta hoặc cô ta không thật sự có lỗi trong việc đó.
Có một người bị bệnh bại liệt trẻ em mà tê liệt hai chi dưới. Anh ta nhớ lại, là vì đời trước lúc anh ta lái xe, đã tông một đứa bé bị thương đến nỗi có tật cà nhắc. Dù đó cũng không phải lỗi của anh ta, anh ta vẫn hay oán trách chính mình. Đương nhiên, anh ta trong khi tự trách mà tiêu nghiệp, do đó đạt được giải thoát bản thân.
5. Nghiệp do phấn đấu bản thân (Developed ability and awareness karma)
Tài năng và tri thức phải trải qua đời đời kiếp kiếp tích luỹ mới có thể đạt được.
Chẳng hạn như, có một người đối với âm nhạc cảm thấy rất hứng thú, hạ quyết tâm bỏ công sức vào âm nhạc để có thành tựu. Anh ta ở trong sáu lần luân hồi đã một mực bồi dưỡng năng lực âm nhạc của mình, mỗi đời đều có một chút tiến bộ. Cuối cùng, ở đời này, anh ta trở thành một nghệ sĩ nổi danh. Còn có một người phụ nữ, ở kiếp này cô ấy có 30 năm cuộc sống hôn nhân hạnh phúc khiến người khác hâm mộ, đây là bởi vì cô ấy qua nhiều lần chuyển thế luôn một mực chú trọng tăng thêm nhận thức giá trị trong các mối quan hệ.
Những người này thành công và hạnh phúc là thông qua sự vất vả hết đời này sang đời khác mà có được, họ trong lúc cố gắng và vất vả mà được tiêu nghiệp và tích đức, do đó đổi lấy sự thành công và hạnh phúc ở đời này. (Chú thích của dịch giả: Đối với sinh mệnh khác mà nói, việc đối xử với thành công và cơ hội học tập của người khác, không ghen ghét thành công và hạnh phúc của người khác là một thái độ chính xác).
Thưa quý độc giả, khi đọc đến đây, các bạn có lẽ đã hiểu vì sao một sinh mệnh nhất định phải có nghiệp lực. Nhân vô thập toàn mà! Con người có khuynh hướng phạm sai lầm. Cho dù bạn không muốn hoàn trả nghiệp lực của mình, phép tắc luân hồi sẽ cưỡng bức bạn hoàn trả. Sinh mệnh luân hồi là hình thức tồn tại cơ bản của sinh mệnh, cũng là biểu hiện từ bi của vũ trụ đối với một sinh mệnh. Sự từ bi này thể hiện ở chỗ, cấp cho sinh mệnh một lần cơ hội để sinh mệnh đó có thể sửa sai, học tập, bổ sung và hoàn thiện chính mình. Có lẽ bạn sẽ hỏi, vì sao không trực tiếp nói cho sinh mệnh biết? Tất cả mọi pháp tắc tự nhiên đều không thể cho biết trực tiếp được, con người cần phải thông qua học tập và trải nghiệm mới có thể hiểu được. Về điểm này, mọi người đều có cùng nhận thức. Nhân loại chẳng phải thông qua mấy nghìn năm học tập tự nhiên và tổng kết kinh nghiệm mới có thể phát triển hay sao?
Thật ra, nếu một sinh mệnh là lương thiện, ở khắp nơi trên sinh mệnh này cũng có thể cảm nhận được hình thức tồn tại cơ bản của một sinh mệnh là chân thật, thiện lương, và dung nhẫn. Đó là bởi vì, giữa các sự vật có cùng đặc tính Chân-Thiện-Nhẫn là không có gián cách.
Phương thức loại bỏ nghiệp và gia tăng đức tốt nhất là đồng hoá với đặc tính Chân-Thiện-Nhẫn của vũ trụ, tức là thông qua tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Để hiểu rõ hơn mối quan hệ về chuyển hoá giữa đức và nghiệp, xin mời các bạn đọc cuốn “Chuyển Pháp Luân”.
GHI CHÚ:
Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công) là môn tu luyện Phật gia thượng thừa, do ông Lý Hồng Chí, Sư phụ của pháp môn sáng lập. Pháp môn lấy [việc] đồng hoá với đặc tính “Chân Thiện Nhẫn” của vũ trụ làm căn bản, lấy đặc tính tối cao của vũ trụ làm chỉ đạo, là chiểu theo nguyên lý diễn hoá của vũ trụ mà tu luyện.
Các bài giảng của Sư phụ Lý được trình bày trong nhiều kinh thư, trong đó có Pháp Luân Công, Chuyển Pháp Luân, Đại Viên Mãn Pháp, Tinh tấn Yếu chỉ và Hồng Ngâm. Các tác phẩm này và các tác phẩm khác đã được dịch thành 38 ngôn ngữ, và được xuất bản và lưu truyền trên khắp thế giới. Pháp Luân Công giúp nâng cao đạo đức, cải thiện sức khỏe và khai sáng tâm linh, kết hợp giữa “Tu dưỡng tâm tính & Luyện tập thân thể” nên còn gọi là pháp môn Tu Luyện.
Pháp Luân Công là pháp môn tu luyện Phật gia (không phải Phật giáo). Pháp Luân Công không tôn giáo, không chính trị, phù hợp tối đa với mọi tầng lớp xã hội, việc theo học hoàn toàn là tình nguyện.
Pháp Luân Công đã được phổ truyền tạị hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, đem lại lợi ích to lớn cho hàng trăm triệu người trên thế giới.

Lòng an định mới hiểu được vạn vật, tâm tĩnh lặng mới thấu được lòng người

07 September 2017 - 06:35 PM

[background=rgb(252, 252, 252)]

Lòng yên tĩnh mới có thể nghe được thanh âm của vạn vật, tâm thanh tĩnh mới có thể nhìn thấu bản chất của con người. Duyên đến duyên đi đều tùy duyên, người đến người đi đều tùy ý.[/background]

Gặp chuyện không nên hoảng loạn, nhìn người không thể phán xét quá nhanh
Đôi khi, bạn muốn đưa ra một kết luận nào đó, đừng ngại ngần mà chờ thêm một chút, mọi chuyện có thể không hoàn toàn như vậy, những chuyện bạn đã thấy, đã nghe, lại chưa chắc là sự thật.
Khi bạn nghe được những lời bán tán sau lưng, đừng ngại ngùng mà hãy nghe một chút. Nếu như chính mình có điều gì sai, thì mau chóng sửa đổi lại, còn nếu như không có gì sai, thì có thể mỉm cười bỏ qua.
Một lời nói vô tình, có thể sẽ dẫn đến những tranh chấp không đáng. Một câu nói thiện ý, có thể làm cho nhân tâm sinh thiện niệm.
Bồi dưỡng một con người cần thiên ngôn vạn ngữ, nhưng hủy hoại một con người chỉ cần một câu nói. Cho nên, khi phát ngôn cần thận trọng, như vậy mới giảm thiểu được những tranh chấp vụn vặt; lúc hành sự cần đắn đo, mới có thể giảm bớt đi những nuối tiếc.
Một câu nói, rất nhẹ nhưng cũng rất nặng. Một lời nói tuy rất bình thường, những lại có sức ảnh hưởng rất lớn, vậy nên cần cân nhắc khi mở miệng.
Con người thống khổ có nguyên nhân chủ yếu là 2 chữ “so đo”. So đo càng nhiều, tâm càng mệt mỏi, để ý càng nhiều, tâm càng tổn thương.
Quay đầu nhìn lại những sự việc từng làm bạn tức giận, mới phát hiện rằng nó không có gì đáng kể. Nhìn lại những sự tình từng khiến bạn thống khổ không chịu nổi, lại thấy hết thảy đều tựa như gió thoảng mây trôi.
Thanh tỉnh là một loại lý trí, khờ khạo là một loại trí tuệ. Không sợ người khác làm mình tổn thương, mà chỉ sợ chính mình không buông tha được cho mình.
Nhìn không thấu, thì người thống khổ chính là mình. Nghĩ không ra, tổn thương không ai khác cũng lại là mình.
Tâm như con thuyền lá nhẹ lướt, trừ mình ra, không ai có thể độ mình được…
Không phải tất cả mọi người đều có thể trở thành bằng hữu; không phải tất cả trái tim đều chân thành.
Có một số người, không đáng để tận tâm tận lực
Có một số việc, không đáng để phó xuất chân tâm
Có bỏ qua, mới có đổi mới
Có buông thả, mới có thu nạp
Có tuyệt giao, mới có tri kỷ.
Gặp người hoài nghi bạn, bạn càng chân thành thì lại càng giống như nói dối, cho nên phải học được cách im lặng.
Gặp người đối với bạn lòng mang ác ý, bạn lương thiện chính là mềm yếu, cho nên phải học được cách rời xa.
Gặp người xem nhẹ bạn, cho dù bạn có “nặng” gấp 2 lần đi nữa, cũng sẽ bị coi nhẹ tựa lông hồng, cho nên không cần lãng phí thời gian.
Người yêu bạn sẽ không cần giải thích, bởi vì họ có thể hiểu được. Người không yêu bạn, thì cũng không cần giải thích, bởi vì không đáng.
Có một số người, xem nhẹ là duyên, quý trọng là thù. Có một số việc, khờ khạo là yêu, sáng suốt lại là hận. Duyên đến duyên đi đều tùy duyên, người đến người đi đều tùy ý.

dd
Giao lưu kết bạn Mảnh đất tình yêu Thế giới giải trí Hình ảnh đẹp Văn hóa nghệ thuật Học hỏi, trao đổi Âm nhạc


Copyright © 2017 Your Company Name