Tới nội dung

IPB Style© Fisana
 




- - - - -

Những nhà soạn nhạc thiên tài


31 trả lời cho chủ đề này

#13 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:40 AM




Claude Debussy




French composer of the early 20th century



 




 



 




 




(St. Germain-en-Laye, August 22, 1862 - Paris, March 25, 1918)




 



  







Thân thế và sự
nghiệp:

Claude Debussy
là một trong những nhạc sĩ có ảnh hưởng lớn nhất ở thế kỷ XX.
Mối quan tâm về phát triển nghệ thuật nhãn quan và văn học đã
ảnh hưởng mạnh đến tác phẩm của ông. Chủ nghĩa ấn tượng của các
hoạ sĩ Claude Monet (1840-1926) và thể loại thơ mới của Stephane
Mallarmo và Paul Verlaine rất dễ nhận thấy trong nhạc của ông.



 





Photo,
1885



 



Theo các nhà viết nhạc sử, ông đứng hàng đầu trong 3 khuôn mặt
soạn nhạc lớn khác là SCHONBERG người Áo và STRAVINSKI người gốc
Nga sau định cư ở Hoa Kỳ. Chính nhờ họ mới tạo được một sắc thái
độc đáo nổi bật cho nền âm nhạc thế kỷ 20 trên thế giới trong đó
nảy sinh một đường lối quan niệm mới của chức năng âm nhạc cũng
như cho nghệ thuật thưởng thức âm thanh.



 





 



Tài năng của
ông được biết đến rất sớm khi ông vừa mới vào học ở nhạc viện
Paris nổi tiếng vào năm 11 tuổi. Do được đào tạo một cách nghiêm
túc nên sáng tác của ông mang đậm nét truyền thống và ngày càng
được hoàn thiện hơn qua các chuyến lưu diễn. Bên cạnh đó ông
cũng tiếp nhận những ảnh hưởng của các nhạc sĩ Nga Borodin và
Mussorrgsky. Ông rất có ấn tượng về việc kết hợp các thể loại âm
nhạc thiêng liêng và duy cảm từ vở nhạc kịch Parsifal của Wagner
mà ông đã được xem ở Bayreuth. Có lẽ điều phi thường hơn cả là
âm điệu huyền diệu gamelan của người Java (dàn nhạc sử dụng bộ
gõ bằng kim loại ở Indonesia) mà Debussy đã gặp tại cuộc triển
lãm thế giới ở Paris năm 1889. Những âm thanh kỳ lạ này đã đốt
cháy trí tưởng tượng của Debussy cho phép ông tạo ra nhiều kết
cấu và âm sắc mới trong tác phẩm của mình.



 





Photo as
Pianist in Nadezhda von Meck's Trio (She was


Tchaikovsky
's
friend)



 



Kiệt
tác đầu tay của Debussy là bức tranh thanh âm ngắn cho dàn nhạc
Prélude à 'L'après-midi d'un faune' (Prelude to the Afternoon of
a Faun) (1894)( Khúc nhạc đầu cho buổi chiều của thần đồng áng)
dựa trên bài thơ tình tuyệt diệu của Mallarmo. and Maeterlinck
trong vở opera Pelléas et. Sự tiến bộ của những ý tưởng âm nhạc,
cấu trúc bài nhạc là thứ yếu so với ngữ cảnh và âm sắc. Những ấn
tượng về thơ trong các tác phẩm nhạc của Debussy vừa mờ ảo vừa
ngất ngây. Các tác phẩm đó của Debussy như bản giao hưởng nhịp
đơn La Mer (Ðại dương) (1905) đánh dấu một bước chuyển biến quan
trọng trong dòng nhạc cổ điển mà chưa ai gây được tiếng vang lớn
trong giới nhạc sĩ như ông.



 



 





Photo with
his second wife, Emma Bardac



 



 




Có người nhận định rằng


Debussy

bị ảnh hưởng nhiều nền âm nhạc phương Đông, trong đó có Việt
Nam.



 



Ông soạn bản “Tứ tấu cho đàn giây”, rồi năm 1894 ra đời bản
“PRÉLUDE à l''après midi d''un faune” mở đầu kỷ nguyên mới của
âm nhạc hiện đại dựa trên giai điệu Đông Phương (Orientalism) mà
mọi người đều ghi nhận như một hiện tượng biện chứng âm nhạc của
thế kỷ 20 vừa qua . Tìm hiểu những động lực nào đã khiến DEBUSSY
chuyển hướng sáng tác độc đáo như vậy, đó là ở năm 1890 nhờ ông
tham dự Hội chợ toàn cầu tại thủ đô Pháp (Exposition universelle
de Paris) và được thưởng thức âm nhạc cổ truyền Việt Nam do giàn
nhạc Đại Nội Triều Đình Huế sang đây trình tấu .



Ở thời kỳ hậu
bán thế kỷ 19, đã đánh dấu sự mở đầu của nền cai trị của người
Pháp tại các xứ Đông Dương trong đó có đất nước ta và kể từ năm
1885 khi vua Tự Đức băng hà, chủ quyền dân tộc coi như đã mất
vào tay thực dân Pháp . Năm 1890 nói ở đây theo tài liệu sử sách
ghi thì triều đình Huế được Pháp giao cho vua Đồng Khánh để có
nhiệm vụ thi hành chính sách cai trị của họ mà chủ yếu lúc đó là
công việc bình định đối phó với phong trào Cần Vương còn hoạt
động chống Pháp . Nói chung tình hình đã tạm ổn định trên các xứ
Đông Dương và bên chính quốc có tổ chức một Hội chợ Quốc Tế tại
thủ đô Paris nhằm phô trương với thế giới những sản phẩm tiểu
công nghệ địa phương. Nhân dịp này, vua Đồng Khánh được họ cho
qua Pháp cùng với giàn nhạc đại nội trình tấu âm nhạc cổ truyền
Việt Nam. Nhà soạn nhạc nổi tiếng DEBUSSY năm đó mới 28 tuổi đã
được nghe những bản nhạc triều đường của chúng ta cùng với ban
nhạc đảo JAVA thuộc Nam Dương quần đảo mang tính chất Á Đông lúc
ấy rất mới lạ và độc đáo đối với thế giới .



 





The Dancer
Nijinsky as the Faun by L. Bakst, 1912



 



Trong cuốn “Tự điển âm nhạc hiện đại” (Dictionaire de la Musique
Contemporaine) do nhà xuất bản LAROUSSE của Pháp ấn hành năm
1976, khi viết về DEBUSSY có đoạn ghi rõ ràng những chi tiết nêu
trên, theo đó đã khẳng định động lực khiến ảnh hưởng mạnh mẽ đến
chiều hướng sáng tác của ông trong việc khai phá âm nhạc Đông
Phương để mở đầu cho trường phái ORIENTALISM trong thế kỷ 20 vừa
qua.



 Ngoài ra, trong cuốn sách mang tựa đề “Nhạc giao hưởng”
(Symphonic music) do nhóm nghiên cứu trường Đại Học CORNELL xuất
bản cũng có nhận xét tương tự về những chất liệu sáng tác của
DEBUSSY đã chịu ảnh hưởng sâu xa sau khi ông được thưởng thức
các bản nhạc do giàn nhạc triều đường Việt Nam cũng như JAVA
trình tấu tại Hội chợ quốc tế Paris năm 1890 ở cuối thế kỷ 19 .
Điều quan trọng ở đây là nội dung cuốn “Tự điển âm nhạc hiện
đại” của nhà xuất bản LAROUSSE ấn hành nói trên do CLAUDE
ROSTAND nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng thế giới phụ trách phần
biên soạn, cho nên những nhận định của ông về DEBUSSY mang tính
vô tư đáng tin cậy và đem lại một dữ kiện tôn vinh âm nhạc cổ
truyền Việt Nam mà ít người được biết đến .




Trong cuốn “Tự Điển âm nhạc hiện đại” Larousse
đó, có in bức hí họa vẽ chân dung DEBUSSY mô tả ông như một
chiến sĩ cách mạng về âm nhạc có công lao phá ngục BASTILLE là
thành trì của truyền thống nhạc cổ điển thường dùng làm khuôn
mẫu sáng tác . Bức hí họa do GEORGES VILLA vẽ phác bằng bút chì
và được tô màu lưu giữ trong sưu tập của A. MAYER hiện nay .
Điểm đặc biệt đáng chú ý không ai ngờ tới là cuộc cách mạng âm
nhạc trong thập niên cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 do DEBUSSY đề
xướng lại bắt nguồn từ động lực ông được nghe âm nhạc cổ truyền
Á Đông của Việt Nam và JAVA trình tấu khiến ông chuyển hướng
sáng tác
.


 


#14 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:42 AM





RACHMANINOV - MỘT THIÊN TÀI




(1873-1943)




 








Sergey Vasilyevich Rachmaninov

sinh ngày 1/4/1873 trong một gia đình quý tộc lâu đời ở vùng
Semyonovo, nước Nga. Alexander Siloti - người học trò yêu
của nhà soạn nhạc Hungary vĩ đại F.Liszt – là anh em họ
của Rachmaninov, đã đưa cậu bé 12 tuổi này vào Nhạc viện Moscow.
Rachmaninov có một trí nhớ âm nhạc kỳ lạ khiến giáo sư
Taneyev,
một nhà soạn nhạc tên tuổi, phải thốt lên rằng :
“Chẳng kém Mozart !”
. Rachmaninov vượt qua rất dễ dàng các
kỳ thi của Nhạc viện với điểm 5+ và là trường hợp duy nhất trong
lịch sử Nhạc viện Moscow được công nhận tốt nghiệp khoa Piano mà
không cần thi. Chỉ mất 1 năm Rachmaninov đã hoàn thành giáo
trình “sáng tác” 2 năm của Nhạc viện bằng opera 1 hồi
Aleko
phổ từ thơ Những người Digan của Puskin.
Tác phầm này được công chúng trong Nhà hát lớn Moscow nồng nhiệt
tung hô tại đêm công diễn đầu tiên.




 




 





 




Mùa
xuân năm 1897, thảm hoạ bất ngờ đổ xuống đầu nhà soạn nhạc trẻ
đang thăng hoa. A.R.Glazunov với tình yêu và lòng mến mộ
Rachmaninov đã trình bày Giao hưởng số 1 của ông trước
công chúng St.Petesburg. Cần phải nói rằng nghệ thuật chỉ huy
không phải là ưu điểm nổi trội của nhà soạn nhạc lỗi lạc này,
nên giao hưởng của Rachmaninov bị đổ. Các nhà phê bình, đặc biệt
Cesar Cui, con ngựa đầu đàn trong lĩnh vực âm nhạc,
xúm lại chê bai không tiếc lời. Rachmaninov mất tinh thần. Gần 3
năm trời ông gác bút không viết. Người kéo Rachmaninov ra khỏi
“vũng lầy hờ hững” này là một nhân vật rất độc đáo –
S. Mamontov
- một nhà tư bản tài chính, một Mạnh Thường Quân
của các hoạ sĩ, nhạc sĩ. Mùa đông năm 1898, ông mời Rachmaninov
chỉ huy các vở opera trong nhà hát của ông. Rachmaninov trở
thành một chỉ huy dàn nhạc kiệt xuất. Đến nỗi sau này thành
danh, ông vẫn không biết gọi mình là gì - một nhà soạn nhạc vĩ
đại, một nghệ sĩ piano tài hoa hay một nhà chỉ huy dàn nhạc lỗi
lạc? Lịch sử thì rất công bằng, nó ghi tên Rachmaninov vào sách
vàng với cả 3 “nhà” như vậy. Nghệ thuật chỉ huy của ông
không có nhiều những động tác “sân khấu” đẹp mắt, mà “tiết kiệm”
đến mức tưởng như Rachmaninov chỉ đếm nhịp. Song quyền lực của
ông trước dàn nhạc, trước khán giả là sự thống trị tuyệt đối.





 




Ngày
27/10/1901, Rachmaninov đã đánh dấu sự “trở lại” của mình
trong đêm công diễn tại Moscow bằng Concerto số 2 viết cho
piano
được dành tặng cho nhà thôi miên Nikolay Dahl,
người đã nâng đỡ tâm hồn Rachmaninov trong thời gian khó vừa
qua. Cùng với Concerto số 3 viết cho piano (viết năm
1909), một concerto đầy chất thơ tinh tế quyến rũ, kiệt tác này
đã đưa Rachmaninov lên đài cao vinh quang thế giới như
Concerto số 1
của Tchaikovsky, hay Concerto cho piano
của E. Grieg.





 




Năm
1906, Rachmaninov sang Đức, sống 5 năm ở Dresden, trong một ngôi
nhà ven rừng gọi là Gartenvila. Tại đây ông viết Giao hưởng
số 2 op.27
- một trong những tác phẩm đậm chất dân gian Nga
nhất của Rachmaninov và giao hưởng thơ Đảo chết (The Isle
of the Dead). Cũng giống nhiều nhà soạn nhạc vĩ đại, Rachmaninov
thường băn khoăn suy tư về số phận con người, cuộc sống – cái
chết. Năm 1913, Rachmaninov viết giao hưởng thơ Những quả
chuông
(Bells) cho dàn nhạc, hợp xướng và người lĩnh xướng
theo lời thơ của Edgar Poe, thể hiện tất cả ánh sáng và
bóng tối, niềm vui và nỗi dày vò. Tiếng chuông bạc trong trẻo
của mùa xuân, tiếng chiêng vàng trong hôn lễ, tiếng chuông đồng
ầm ĩ lo âu và tiếng chuông sắt rền rĩ đau thương của tang lễ.
Những quả chuông
là một trong những đỉnh cao sáng tạo
của nhà soạn nhạc Nga.




 




Sau
Cách mạng tháng Mười, Rachmaninov và gia đình sang Thuỵ Điển,
Đan Mạch và sau đó là Mỹ. Ở đây suốt 10 năm ròng Rachmaninov
ra mắt dân Mỹ như một nghệ sĩ piano hàng đầu thế giới. Mỗi buổi
biểu diễn của ông là một sự kiện, Rachmaninov là một trong những
người “trình bày” Liszt tinh tế nhất, lãng mạn nhất. Trở nên
giàu có, song nỗi nhớ quê hương luôn day dứt, Rachmaninov - nhà
soạn nhạc – im lặng trong 10 năm trường. Mãi năm 1927,
Rachmaninov mới hoàn thành bản Concerto số 4 viết cho piano
từ các phác thảo hồi còn ở Nga, 3 năm sau đó Rhapsody theo
chủ đề của Paganini
viết cho piano và dàn nhạc - một trong
những kiệt tác của Rachmaninov – ra đời. Rhapsody gồm 24 biến
tấu theo một giai điệu rất nổi tiếng trong Caprice cung La
thứ
của Paganini này có thể được xem như bản
“Concerto số 5 viết cho piano”
của Rachmaninov hoặc như một
giao hưởng thơ.





Rhapsody này có 3 chương. Chương đầu – 2 nhóm biến tấu. Nhóm 1
là sự phát triển chủ đề Paganini gợi hình tượng cây đàn violin
huyền thoại. Tầm vóc khổng lồ của ông mỗi lúc một nổi bật hơn từ
nơi thời gian xa xăm. Nhóm 2 dựa theo chủ đề về ngày phán xử
cuối cùng Dies Irae của Kinh thánh. Hình tượng cái chết
được thể hiện đơn giản mà độc đáo, không có nét bề ngoài nào làm
kinh sợ, gắn liền với chất lãng mạn thần bí của những khái niệm
trung cổ về “Ngày phán xử”. Chương 3, chủ đề Paganini
phát triển mỗi lúc một năng động hơn và mang phong mạo anh hùng.
Sự xuất hiện ở đoạn kết với chủ đề Dies Irae mạnh mẽ và hăm doạ,
nhưng vẫn không thể ngăn được dòng chuyển động vùn vụt này.
Rachmaninov khẳng định nghệ thuật và cuộc sống không thể bị huỷ
hoại bởi sức mạnh của bóng tối.




 





Những năm cuối đời, Rachmaninov còn bùng nổ với một loạt những
kiệt tác khác : Biến tấu theo chủ đề của Corelli viết cho
đàn piano solo, Giao hưởng số 3 – mang nặng nỗi buồn xa
xứ của nhà soạn nhạc vĩ đại – và “khúc hát con thiên nga” của
Rachmaninov – Những điệu nhảy giao hưởng (Symphonic
Dances). Cũng giống như các tác phẩm cuối đời khác, Những điệu
nhảy giao hưởng mang tính bi kịch sâu sắc. Khi thế chiến 2 bắt
đầu, Rachmaninov tổ chức những buổi hòa nhạc gây quỹ cho Hội Chữ
thập đỏ. Ông mang tới Sứ quán Liên Xô (cũ) tại New York ủng hộ
những món tiền lớn. Vài ngày trước lễ kỷ niệm ngày sinh thứ 70
của mình (1943), Rachmaninov đã từ trần tại Beverly Hills,
Carlifornia vì bệnh ung thư.



(ST)


#15 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:43 AM




Antonio Vivaldi






 



(born Venice, 4 March
1678; died Vienna, 28 July 1741).




 




 




Antonio Lucio Vivaldi sinh ngày 4-3-1878 tại Venice,Italy và mất
năm 1741 tại Vienna,thủ đô nước Áo.


Là con trai cả trong 9 người con của Giovanni Battista Vivaldi
và Camilla Calicchio. Thời kì đó là kỉ nguyên của xu hướng nghệ
thuật Baroque.




 




Ông đã xuất hiện trước công chúng một cách khá ấn tượng. Bắt đầu
học Violin từ khi còn rất nhỏ do người cha của mình dạy, ngay
lập tức Vivaldi đã cho thấy ông là 1 người có nhiều triển vọng
về âm nhạc, sau đó Vivaldi đã trở thành 1 trong những nhà soạn
nhạc và nghệ sỹ violin lừng danh nhất mọi thời đại.




 







 




Khi mới 15 tuổi, ông bắt đầu khóa học để trở thành một thầy tu
mà mãi gần 10 năm mới kết thúc và khi đã trở thành một thầy tu
chín chắn, đủ lông đủ cánh vào năm 1703, Vivaldi đã nhanh chóng
đi đến quyết định sẽ thôi không đi diễn thuyết trong các buổi lễ
nhà thờ nữa, nhưng thực ra sức khoẻ của ông không được tốt nữa.
Nhìn bề ngoài thì không có vẻ gì là bất bình thường với ông khi
thôi phục vụ tại các buổi lễ nữa, nhưng lại than vãn về căn bệnh
đau ngực, ông luôn giận dữ đồng thời viết ra những giai điệu mới
cho các bản Concerto rất cẩu thả.




 




Mặc dù ưu tiên hàng đầu của Vivaldi là viết và trình diễn âm
nhạc nhưng ông vẫn rất chú tâm vào việc giáo dục những cô bé mồ
côi mà có mà có đến hàng trăm trường hợp ở Venice lúc bấy
giờ,ông cũng có sự liên hệ với một trong những tổ chức từ thiện
lớn nhất Venice thời gian đó. Và Ospedale della Pietà đã trở
thành 1 trường dạy nhạc,sau này được biết đến khá nổi tiếng. Trẻ
em ở đây được giáo dục theo khuynh hướng thiên về âm nhạc, tất
cả đều được học và luyện tập bằng nhạc cụ của Vivaldi cũng như
của 1 số người khác cung cấp cho họ. Điều này dẫn đến rất nhiều
buổi hoà nhạc được thể hiện bởi các học sinh trẻ tuổi nhưng cũng
được đánh giá rất cao,và trở thành cái gì đó rất thu hút ở
Venice. Vivaldi còn đóng vai trò chủ yếu trong việc chuẩn bị và
dàn dựng những buổi hoà nhạc, thậm chí còn mời cả những nhà soạn
nhạc và những nhạc công nổi tiếng thời bấy giờ đến tham dự.




 







 




Năm 1703, khi đã ở tuổi 25, ông tập trung vào việc sáng tác âm
nhạc, các tác phẩm đầu tay của ông được phát hành năm sau đó.
Ông luôn đi du lịch khắp Châu Âu để bán và trình diễn những bản
Concerto của mình, Vivaldi không những chỉ thích sáng tác nhạc
mà còn rất tích cực trong việc diễn tập và chỉ đạo cho tốt những
buổi biểu diễn. Là 1 nhà sáng tác có rất nhiều tác phẩm,trong
thời gian từ năm 1703 cho đến khi qua đời,ông đã viết ra đến 750
tác phẩm, một con số đáng kinh ngạc,hầu hết trong số đó đều có
chất lượng rất cao,thậm chí còn rất đặc biệt và ấn tượng. Tác
phẩm nổi tiếng nhất của ông sáng tác cho Violin và chi với dàn
nhạc là tác phẩm “Bốn mùa”. Và có lẽ nổi tiếng nhất mà
được viết với cùng 1 mạch cảm hứng là những bản Concerto dành
cho Vilolin, đàn Guitar, kèn Fagot(Basoon) và đàn
Violõngsen(Cello). Ngoài ra,còn có 46 vở nhạc kịch được ghi
trong phần mục lục (mặc dù trong bức thư của ông để lại vào năm
1737 rằng có đến gần 100 tác phẩm, nhưng chỉ còn lại khoảng 50
tác phẩm,số còn lại đã bị thất lạc).




 



Spring




Key:
E Major



I


Allegro

"Giunt' è la Primavera e festosetti

La Salutan gl' Augei con lieto canto,

E i fonti allo Spirar de' Zeffiretti

Con dolce mormorio Scorrono intanto:

Vengon' coprendo l' aer di nero amanto

E Lampi, e tuoni ad annuntiarla eletti

Indi tacendo questi, gl' Augelletti;

Tornan' di nuovo al lor canoro incanto:"



II



Largo


"E quindi sul fiorito
ameno prato

Al caro mormorio di fronde e piante

Dorme 'l Caprar col fido can' à lato."



III



Allegro


"Di pastoral Zampogna al
suon festante

Danzan Ninfe e Pastor nel tetto amato

Di primavera all' apparir brillante."









Summer




Key:
g Minor




I



Allegro
non molto


"Sotto dura Staggion dal
Sole accesa

Langue l' huom, langue 'l gregge, ed arde il Pino;

Scioglie il Cucco la Voce, e tosto intesa

Canta la Tortorella e 'l gardelino.

Zeffiro dolce Spira, mà contesa

Muove Borea improviso al Suo vicino;

E piange il Pastorel, perche sospesa

Teme fiera borasca, e 'l suo destino;"




II



Adagio e
piano - Presto e forte


"Toglie alle membra lasse
il Suo riposo

Il timore de' Lampi, e tuoni fieri

E de mosche, e mossoni il Stuol furioso!"




III



Presto


"Ah che pur troppo i Suo
timor Son veri

Tuona e fulmina il Ciel e grandioso

Tronca il capo alle Spiche e a' grani alteri."








Autumn




Key:
F Major



I



Allegro


"Celebra il Vilanel con
balli e Canti

Del felice raccolto il bel piacere

E del liquor de Bacco accesi tanti

Finiscono col Sonno il lor godere"




II



Adagio
molto


"Fà ch' ogn' uno tralasci
e balli e canti

L' aria che temperata dà piacere,

E la Staggion ch' invita tanti e tanti

D' un dolcissimo Sonno al bel godere."




III



Allegro


"I cacciator alla nov'
alba à caccia

Con corni, Schioppi, e canni escono fuore

Fugge la belua, e Seguono la traccia;

Già Sbigottita, e lassa al gran rumore

De' Schioppi e canni, ferita minaccia

Languida di fuggir, mà oppressa muore."








Winter




Key:
f Minor



I



Allegro
non molto


"Aggiacciato tremar trà
neri algenti

Al Severo Spirar d' orrido Vento,

Correr battendo i piedi ogni momento;

E pel Soverchio gel batter i denti;"




II



Largo


"Passar al foco i di
quieti e contenti

Mentre la pioggia fuor bagna ben cento"




III



Allegro


"Caminar Sopra 'l giaccio,
e à passo lento

Per timor di cader gersene intenti;

Gir forte Sdruzziolar, cader à terra

Di nuove ir Sopra 'l giaccio e correr forte

Sin ch' il giaccio si rompe, e si disserra;

Sentir uscir dalle ferrate porte

Sirocco Borea, e tutti i Venti in guerra

Quest' é 'l verno, mà tal, che gioja apporte."



#16 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:44 AM




THE FOUR SEASONS





 




VIVALDI







Tác
phẩm nổi tiếng nhất của Vivaldi là The Four Seasons (Bốn mùa).
Kể từ sự phục hưng âm nhạc Vivaldi từ giữa thế kỉ, ngày nay, Bốn
mùa trở thành một trong những tác phẩm âm nhạc cổ điển nổi tiếng
nhất và được ghi âm nhiều nhất. Nếu bạn muốn bắt đầu với
Vivaldi, Bốn mùa là một sự khởi đầu dễ dàng và hợp lí.



Bốn mùa là bốn
bản concerto cho solo violon, violon I, violon II, viola, cello
và continuo [bè hát chạy liền] ( thường được chơi bởi đàn
clavico). Những bản concerto này là bốn bản đầu tiên của opus 8
của Vivaldi, thí nghiệm giữa sự hài hòa và sự sáng tạo. Tiêu đề
gợi nhớ đến một tuyên bố nghệ thuật, sự cân bằng giữa logic sáng
tạo âm nhạc và năng lực sáng tạo phát minh.



 







 







MÙA XUÂN:



Mùa xuân đã tới, lũ chim vui vẻ chào mừng mùa
xuân bằng một bài ca vui tươi; và với hơi thở của những cơn gió
nhẹ, mùa xuân tan ra với một tiếng thì thầm đáng yêu. Dông và
chớp, được chọn để thông báo điều đó, đến và bao trùm không
trung với chiếc áo khoác màu đen. Chỉ sau một chút yên lặng, lũ
chim lại trở lại với bài ca say mê của chúng. Sau đó, trên cánh
đồng hoa tươi đẹp, một chàng chăn dê với con chó trung thành của
anh ta ở bên cạnh thiếp đi trong tiếng thì thầm ngọt ngào của
cây lá và hoa cỏ. Theo âm thanh vui vẻ của một chiếc kèn túi mộc
mạc, các nữ thần và các chàng chăn cừu nhảy múa trên mặt đất
thân thương trong sự xuất hiện bừng sáng của mùa xuân.







MÙA HẠ:



Trong một mùa khắc nghiệt bị thiêu đốt bởi ánh
nắng mặt trời, con người trở nên yếu ớt, những cây thông bị đốt
cháy. Chim cu cất tiếng gáy, và chẳng bao lâu sau ta được nghe
chim cu gáy và chim sẻ cánh vàng hót. Zepher (gió tây) thổi nhè
nhẹ, nhưng bỗng nhiên gió bắc xuất hiện, đối lập với người đồng
loại của mình; và cậu bé chăn cừu kêu lên, bởi vì cậu sợ một
trận bão mạnh sẽ xảy ra trong một tương lai gần - và số phận của
cậu. Hai bàn tay, bàn chân mỏi rời của cậu không được nghỉ ngơi
bởi nỗi sợ sấm và sét lớn gây xáo động, và bởi một đàn ruồi và
ong vò vẽ hung dữ. Thật không may, nỗi sợ hãi của cậu đã được
chứng minh là đúng. Bầu trời nổi sấm chớp, mưa đá san phẳn ruộng
ngô và những lớp lớn ngũ cốc.







MÙA THU:



Những người nông dân ăn mừng sự hạnh phúc vui
sướng của một mùa màng bội thu với những điệu nhảy và bài ca, đỏ
bừng hăng say lên với rượu của thần Bacchus, nhiều người kết
thúc sự vui sưỡng của họ bằng giấc ngủ. Không khí được hòa trộn
bằng niềm vui thích, làm mọi người ngung những điệu nhảy và bài
ca. Mùa này mời gọi rất nhiều người đến sự vui thích lớn lao của
một giấc ngủ ngọt ngào. Vào lúc bình minh, những người đi săn
bước vào cuộc săn với tù và, súng và chó săn. Con thú hoang chạy
trốn, và họ lần theo dấu vết của nó. Hoàn toàn sợ hãi, và cho
mệt mỏi bởi tiếng súng và chó săn, bị thương, con vật rũ ra kiệt
sức vì chạy trốn, nhưng, vượt qua, nó chết.






MÙA ĐÔNG:



Run rẩy vì cái lạnh trong băng
tuyết, trong hơi thở khắc ngiệt của một cơn gió khủng khiếp;
chạy, giẫm chân chúng ta mỗi phút giây, răng chúng ta run lập
cập trong cái lạnh cực độ. Những ngày dễ chịu trôi qua một cách
yên bình trước đống lửa trong khi bên ngoài đang đor mưa. Bước
trên băng và, bằng những bước đi chậm vì sợ ngã, chuyển đọng nhẹ
nhàng. Quay một cú táo bạo, trượt chân, ngã xuống. Đi trên băng
một lần nữa và chạy mạnh cho tới khi lớp băng vỡ ra. Nghe thấy
gió sa mạc, gió âm phương Nam và tất cả các ngọn gió thù địch
rời khỏi cánh cổng sắt của chúng: đây là mùa đông, nhưng, dù như
vậy, nó mang lại nhiều niềm vui làm sao!




 


(Sưu tầm)


 


#17 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:45 AM





Franz Liszt


1811-1886









1. Thân thế và sự nghiệp:



Liszt là nhà nhạc sĩ Hungari vĩ đại, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn piano tài
ba của thế kỷ XIX ở châu Âu. Từ Liszt trở đi nền âm nhạc Hung đứng ngang hàng âm
nhạc thế giới.

Liszt sinh ngày 22/10/1810 ở Ðôbôrian- lãnh đạo của công tước vùng Extecgadi. Tổ
tiên của Liszt là nhà nông dân và thợ thủ công nghiệp. Bố của nhạc sĩ đã phục vụ
nhiều năm trong các dinh của các công tước vùng Extéc Âydenxtát. Mẹ của ông là
người gốc Áo. Ông bố rất say mê âm nhạc, cũng biết một số loại đàn và sáng tác
nhưng vì hoàn cảnh kinh tế eo hẹp nên ông không trở thành nhạc sĩ được. Ông đã
truyền lòng nhiệt tình đó cho con trai và và dạy cho Liszt chơi đàn piano ngay
từ lúc còn nhỏ. Cậu bé tỏ ra có năng khiếu đặc biệt, chưa đầy 9 tuổi đã bắt đầu
biểu diễn trước công chúng đông đảo và lên 10 tuổi đã tham gia biểu diễn cùng
với dàn nhạc giao hưởng.



Liszt đến Vienna học tập trong ba năm (vào 1820), ở đây cậu bé học piano với một
nghệ sĩ nổi tiếng, học trò của Beethoven là Kacla Trécni và học lý thuyết âm
nhạc với nhạc sĩ Ý ANTONIO XALÊRI.



Tháng 12/1823, bố cậu lại đưa cậu đến Paris để học tập nhưng ở đây Liszt không
được chấp nhận vào nhạc viện vì cậu là người ngoại quốc. Cậu đã phải tự học tư
về sáng tác với nhạc sĩ Fécdinăng Paoer và piano với giáo sư nhạc viện là Anton
Râykha- người Tiệp. Trong ba năm ở Paris, List đã ba lần đi biểu diễn ở Anh và
các thành phố khác ở Pháp và Thuỵ Sĩ. Thời gian ở Paris là thời kỳ hình thành
nên quan điểm thẩm mỹ và tài năng của Liszt.



Năm 1835-1847 là thời kỳ mới trong sáng tác và biểu diễn của Liszt. Bốn năm đầu
(1835-1839) ông sống ở Thuỵ Sĩ và Ý.

Thời kỳ ở Vâyma (1848-1861) là thời kỳ sáng tác chủ yếu của Liszt vì lúc này ông
đã chấm dứt biểu diễn trong một THỜI GIAN DÀI. Ở ĐÂY, ÔNG LUÔN PHẢI chống đỡ với
sự đả kích của trường phái "Leipzig" và không được thừa nhận mặc dù ông đã đóng
góp rất nhiều sức lực cho nền nghệ thuật của Ðức. Ông quyết định rời Vâyma sống
ở Rome. Mệt mỏi với cuộc đấu tranh ngoài xã hội, đau khổ vì những mất mát trong
cuộc sống riêng (con trai và con gái chết) và chịu ảnh hưởng xấu của người vợ kế
sùng đạo là K.Vihenxtanh, Liszt đã tìm sự an ủi trong tôn giáo và có thời kỳ làm
linh mục. Ðó là những năm khủng hoảng trong cuộc đời của Liszt (1861-1869).



Những năm cuối đời (1869-1886) khi thì Liszt sống ở Vâyma, khi thì ở Rome, hàng
năm một vài tháng về Tổ quốc. Trong thời gian ở Vâyma ông đã mở nhiều lớp dạy
học không lấy tiền.

Liszt mất ngày 31/7/1886 ở Bairây (Ðức) trong thời gian tham dự những buổi trình
diễn những tác phẩm nhạc kịch của Wagner người mà Liszt đánh giá rất cao.









2. Ðặc điểm sáng tác và tác phẩm:



Cuộc đời gắn liền với âm nhạc châu Âu, âm nhạc của ông luôn hướng về đề tài dân
tộc (đặc biệt là dân tộc Hung), phản ánh những khía cạnh điển hình trong cuộc
sống tinh thần và tình cảm của những người tiến bộ của thế kỷ XIX. Ðó là cuộc
đấu tranh, niềm say mê, những nổi suy tư, hy vọng, hoài nghi, thất vọng....của
họ. Những tác phẩm này nổi lên khuynh hướng hiện thực kết hợp với những ước mơ
lãng mạn tiến bộ, với những hình tượng rõ ràng, cụ thể và nội dung đậm đà.



Giai điệu và cấu trúc điệu thức (cách tiến hành giai điệu và sử dụng "gam
Hungari"...) ngay cả những giai điệu mang tính chất ngâm vịnh của Liszt cũng
thấy rõ sự biến thể độc đáo của những hình thức ngẫu hứng kể chuyện dân gian.








Tác phẩm:



- Sáng tác cho piano: những tác phẩm cải biên dân ca, vũ ca, phóng tác tự do
trên chủ đề của người khác. Ví dụ như: cải biên 50 bài hát cho Schubert, 15 bài
hát của Schumann cho piano. Aria hay opera của Rotxini. Các tác phẩm của Chopin
và Mendelssohn cũng được chuyển thể trong đó nổi tiếng là có Tanhâyde của
Wagner.



- Các tác phẩm chuyển thể: Tác phẩm "ẢO TƯỞNG" CỦA BÉCLIÔ; SAU ĐÓ LÀ GIAO HƯỞNG
HARÔN Ở Ý và những uvectuya của ông, nhiều giao hưởng của Beethoven (số 5,6,7),
nhiều uvectuya trong các vở nhạc kịch của Rôtsxini, Vebe (Mũi tên thần), Wagner
(Tâyhâyde)....sáu prluyt và fuga.....



- Thể loại etuyt: Năm 1838 Liszt soạn xong tập "Những tập etuyt lớn" sau đó sửa
đổi thành "Những etuyt cao cấp" (1851). Trong 12 bản của tập etuyt này thì có 10
bản có tiêu đề (trừ bản số 2 và số 10 không có tiêu đề). Trong những etuyt này,
Liszt đề ra bốn loại thủ pháp cho piano: những quãng tám và những hợp âm, láy,
những nốt đôi, gam và hòa âm.



- Tiểu phẩm có tiêu đề nổi tiếng như: Những năm chu du, Anbom của người du tử,
Năm thứ nhất của cuộc chu du xuất bản ( năm 1855). Phần lớn những khúc nhạc
trong tập này miêu tả những cảnh thiên nhiên như: Trên hồ Valenxtác, Nguồn nước,
Những tiếng chuông ở Giơnevơ, Ðồng quê, Nhớ xứ sở, Miếu Uyliemten, Cơn giông,
Thung lũng Obécman, Những năm thứ hai của những cuộc chu du (1838-1858) gồm bảy
khúc, Cuộc hôn lễ, Ba bản sonata của Pêt'rắc, Sau khi đọc Ðăngtơ, Những năm thứ
ba của những cuộc chu du (1867-1877)...



- Viết 19 bản Rapsodie Hungari: số 2,6 mang tính chất vũ khúc, số 2 và 12 ngâm
vịnh, 14 với cảm xúc anh hùng.



(ST)

 




#18 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:46 AM




Richard Wagner




(Leipzig, May 22, 1813 - Venice, February 13, 1883)










German composer of the Tahomatic period



 





1.Thân thế và sự nghiệp:




Wagner là nhà soạn nhạc của châu Âu thế kỷ 19,
một nhà cải cách nhạc kịch táo bạo, là người kết thúc chủ nghĩa
lãng mạn của Ðức. Wagner được đề cao là nhà Cách Mạng của nền
nghệ thuật nhạc kịch. Thiên tài của ông xuất hiện trong phạm vị
rộng, ông không chỉ là nhà soạn nhạc mà còn là nhà thơ, kịch sĩ
và viết kịch bản, là một trong những người sáng lập ra nền nghệ
thuật chỉ huy đương đại và còn viết nhiều những tác phẩm quan
trọng của lĩnh vực thẩm mỹ.



 






 



- Wagner sinh ngày 22/5/1813 ở
Leipzig- Ðức. Bố là một viên chức cảnh sát. Sau khi ra đời được
nửa năm thì bố chết. Wagner sống và lớn lên trong gia đình bố
dượng- một kịch sĩ tài năng kiêm hoạ sĩ và nhà văn tên tuổi là
Lútvích Hâye. Wagner bắt đầu học âm nhạc vào lúc 15 tuổi nhưng
năng khiếu về sân khấu và âm nhạc biểu lộ rất sớm ở cậu bé.



 



 







 



- Khi Cách Mạng bùng nổ ở Ðrexden, Wagner đã tham
gia hàng ngũ những người khởi nghĩa. Tháng 5/1849 khi cuộc khởi
nghĩa thất bại, Wagner bị truy nã ông phải chạy trốn ra nước
ngoài trong 10 năm (1849-1858), Wagner sống ở Thuỵ Sĩ.



- Năm 1864 cuộc đời của Wagner bước sang một bước
ngoặc. Vua Ludwig đệ nhị Bavacxki nhận bảo trợ cho sự nghiệp
nhạc kịch của ông và tạo mọi điều kiện cho Wagner thực hiện
những dự kiến về nghệ thuật của mình.



-Ông mất này 13/2/1883, thọ 70
tuổi sau nửa năm dựng vở cuối cùng vào thời GIAN NGHỈ Ở VƠNIDƠ
TRÊN ĐẤT Ý.




 







 



2. Ðặc điểm sáng
tác và tác phẩm:



Ðề tài hầu hết đưa vào truyện
dân gian Ðức và chuyện thần thoại, đề cập đến những vấn đề nóng
hổi của thời đại. Ông kế thừa truyền thống âm nhạc cổ điển
Vienna (hình tượng anh hùng của Beethoven và triết lý sâu sắc
của Bach).






 


 Wagner sáng
tác tất cả 13 vở nhạc kịch, trong đó nổi tiếng như:


- 1840-1842:
Người hoa tiêu Hà Lan

- 1840: Người thuỷ thủ phiêu lãng, Taxôzê...

- Tannhọuser (1845) and Lohengrin (1848)

- 1849-1858: Chiếc nhẫn của Nibelugen, Vàng ở sông Ranh
(1852-18540; Trixtan và Idon (1857-1859), Sự diệt vong của các
vị thần, Jewishness in Music (1861-1867), Opera and Drama.

- Vở Opera cuối cùng của Wagner là Parsifal, một câu chuyện về
tôn giáo được diễn ở Bayreuthu vào năm 1882.


(st)


#19 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:48 AM




Cuộc đời và tác phẩm của Felix Mendelssohn - Barthody






 





(born Hamburg, 3 February
1809; died Leipzig, 4 November 1847)




 







Với tình yêu
thiên nhiên và con người trong sáng, thiết tha, những giai điệu
tuyệt vời đầy ắp chất thơ và tràn trề nhựa sống tuổi trẻ, những
đặc trưng lãng mạn trữ tình của nghệ thuật đầu thế kỷ 19 đã được
Mendelssohn thể hiện bằng âm nhạc cổ điển.




 




Cuộc đời




 




Cái tên của ông - Felix - đã có nghĩa là “Hạnh phúc”. Hiếm thấy
nhạc sĩ nào có cuộc sống hoàn hảo như Mendelssohn: sung túc về
tài chính, bình yên trong tình yêu và gia đình, thành danh trong
sự nghiệp.




Ông nội Felix - Moses Mendelssohn (1729 - 1786), là một người
bình dân Do Thái đã phấn đấu trở thành nhà triết học của thế kỷ
“Ánh sáng”, là bạn thâm giao của nhà triết học kiêm nhà văn và
phê bình Lessing, bạn bè thường gọi ông với cái tên trìu mến và
kính trọng “Socrat Do Thái”.




Cha Felix - Abraham Mendelssohn (1776 - 1835), là một thương gia
và chủ ngân hàng. Cùng với vợ - Lea Salomon - một phụ nữ có văn
hóa cao, hai người đã tạo những điều kiện tốt nhất cho nền học
vấn của cả 4 người con: Fanny, Felix, Rebecca và Paul. Felix và
chị gái học piano và sáng tác, cô em học hát và cậu em học
cello.




Abraham đã cho các con mình theo đạo Tin Lành, rửa tội ở nhà thờ
Tin Lành dòng Luther và từ đó dòng họ Mendenssohn có thêm chữ
Barthody. Tuổi thơ, Felix được sống trong bầu không khí thân ái
và hòa thuận. Nếp sống mẫu mực và văn minh được ông duy trì
trong gia đình riêng với người vợ xinh đẹp và nết na Cécile
Jeanrenaud (con gái một vị mục sư người Pháp di cư) và 5 người
con.




 






Felix
Mendelssohn kết hôn với Cécile Jeanrenaud vào năm 1837. Họ có
một cuộc sống hạnh phúc và năm người con.




 




Felix chào đời trong tháng Tình yêu (3/2/1809) tại Hambourg. Gia
đình chuyển lên sống ở Berlin năm 1813. Năm 7 tuổi, Felix và
Fanny theo cha sang Paris, tại đây hai chị em đã học piano với
nghệ sĩ lừng danh Marie Bigot.




Trở về Berlin, Felix lại được học nhạc với người sáng lập trường
phái hợp xướng Đức, giám đốc Singakademie Berlin - Carl
Friedrich Zelter (1758 - 1832). Ngoài việc học nhạc, Felix trau
dồi các môn kiến thức khác như: toán, vẽ, văn học, triết học, và
hàng loạt các ngoại ngữ như Hy Lạp, La-tinh, Anh, Pháp và sau
này là Italia




Từ vốn hiểu biết sâu rộng và những mối giao lưu thường xuyên với
giới học giả, trí thức trong xã hội Đức, đặc biệt là ảnh hưởng
của thầy Zelter và người bạn lớn do thầy giới thiệu – đại văn
hào Goethe – Felix đã chọn cho mình một hướng đi xuyên suốt cuộc
đời: “Xây dựng một nền văn hóa âm nhạc dân tộc và dân chủ Đức”.



 



 








Những cống hiến trong hoạt động xã hội




Kỳ công đầu tiên trong hoạt động công ích của Mendelssohn là
việc tái sinh tác phẩm bị lãng quên của Bach “Nỗi khổ nạn của
Chúa theo lời kể của Thánh Mathieu” - (St.Matthew passion). Buổi
biểu diễn (11/3/1829) thành công vang dội, và điều đáng ghi nhớ
là ở chỗ: chàng thanh niên 20 tuổi gốc Do Thái đã trả lại cho
thế giới một tác phẩm lớn nhất của Thiên Chúa giáo sau 100 năm
im lặng. Buổi trình diễn này cũng đánh dấu việc kết thúc giai
đoạn học tập ở nhà trường của Mendelssohn.




Những chuyến viễn du dài hạn tới hàng loạt các nước Anh,
Scotland, Pháp, Áo, Thụy Sĩ, Italia… đem đến cho Mendelssohn
những bài học bổ ích khác. Thiên nhiên và âm nhạc ở các xứ sở lạ
đã để lại cho ông nhiều ấn tượng mới mẻ làm nẩy sinh những tác
phẩm như giao hưởng Italia, Scotland.. v.v…






Sau chuyến du ngoạn dài 3 năm, Mendelssohn quyết định chọn nước
Đức làm nơi cư ngụ và xả thân cho sự nghiệp âm nhạc. Hàng loạt
các công việc mà ông đảm trách: giám đốc Dusseldorf festival,
giám đốc dàn nhạc Gewandhaus tại Leipzig, chỉ đạo nhạc nhà thờ
cho vua Phổ, sáng lập Nhạc viện quốc học đầu tiên tại Leipzig
(1843). Cùng Schumann soạn thảo và trực tiếp dạy môn piano và
sáng tác, còn Ferdinand David dạy violon v.v…




Công việc quản lý và đào tạo bận rộn, Mendelssohn vẫn dành thời
gian cho biểu diễn để cổ súy và truyền bá âm nhạc tới rộng rãi
công chúng. Danh mục các tác giả trong chương trình biểu diễn
của ông thường là Handel, Bach, Mozart, Beethoven.




Mendelssohn là người đầu tiên dàn dựng và biểu diễn tác phẩm
Great Symphony giọng Do trưởng của Schubert (1839), Giao hưởng
số 1 của Schumann (1841) và cùng với Clara Schumann trình diễn
tác phẩm Concerto cho piano và dàn nhạc của Schumann.




Trải qua rất nhiều khó khăn, với nỗ lực kiên trì, Mendelssohn tổ
chức được cho Berlioz biểu diễn tác phẩm Giao hưởng hoang tưởng
(Fantastic symphony) ở Leipzig…




Một thú vị bất ngờ, chính Mendelssohn là người đầu tiên chỉ huy
dàn nhạc với tư thế quay lưng ra khán giả như ngày nay chúng ta
vẫn thấy.




Năm 1846 có triệu chứng đau đầu do áp lực công việc quá tải, mặc
dù bác sĩ cấm tuyệt đối biểu diễn, song do quan hệ đặc biệt với
nước Anh, ông đã không bỏ qua chuyến biểu diễn năm 1847. Tập
trung sức quá độ, đặc biệt bị sốc khi chị gái Fanny qua đời
(14/5/1847) do tai biến não, ngày 4/11 cùng năm ấy Mendelssohn
cũng ra đi theo người chị mà ông hết mực gắn bó yêu thương.




Tang lễ Mendelssohn được cử hành long trọng ở nhiều nơi trên
nước Đức và các nước châu Âu. Tên của nhạc sĩ được đặt cho các
học bổng âm nhạc ở Đức và ở Anh. Tượng Mendelssohn cũng được
dựng lên ở nhiều nơi để tôn vinh người nhạc sĩ tài hoa.




 







 




Tác phẩm




Mendelssohn sáng tác khoảng 250 tác phẩm lớn nhỏ, gồm đủ thể
loại: nhạc sân khấu, opéra, thính phòng, hợp xướng (46), romance
& ca khúc (78), sinfonia (13) cho dàn dây, cho kèn; giao hưởng
(5), concerto cho nhạc cụ độc tấu và dàn nhạc (3 ce’piano, 2 cho
violon và 2 cho song tấu piano), ouverture (6).




Trong số các tác phẩm viết cho piano, tập “Bài ca không lời” gồm
48 bản nhạc (ở thể loại nhỏ) viết dựa trên âm điệu dân ca và dân
vũ, đẹp như những vần thơ, rất gần gũi với nét đẹp văn hóa trong
sinh hoạt của dân tộc Đức: vào những ngày nghỉ hoặc kỉ niệm, các
gia đình thường tổ chức những buổi tiệc nho nhỏ, mọi người quây
quần bên nhau cùng đàn hát, ấm cúng và đầy tình thân ái.




Một tuyệt tác không thể thiếu trong danh mục biểu diễn
(repertoire) của các cây vĩ cầm tài danh là Concerto cho violon
và dàn nhạc giọng Mi thứ, Mendelssohn đã khai thác kỹ thuật và
khả năng biểu cảm của violon trong sắc màu tráng lệ.




Ouverture Giấc mộng đêm hè, một bài thơ trác tuyệt tràn đầy nhựa
sống của tuổi thanh xuân được Mendelssohn viết ra ở lứa tuổi 18!
Phải chăng thần thánh đã thông qua Mendelssohn gửi tới chúng ta
một thông điệp vô giá về tình yêu!


(Sưu tầm)


 


#20 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:52 AM


Antonín Dvořák












 



 



(1841 - 1904)





 







Trong một bảng sắp hạng của các nhà
nghiên cứu lịch sử âm nhạc, Antonín Dvořák chiếm thứ hạng 12 và
sau Tchaikovsky, ông là nhà soạn nhạc thứ hai không mang quốc
tịch Đức được sắp hạng. Ông cũng là người đầu tiên trong số 3
nhà soạn nhạc người Tiệp có mặt trong danh sách này, hai người
kia là: Smetana và Janacek. Dvořák là một trong số những nhà
soạn nhạc sau cùng của thời kỳ Lãng mạn.




 




 




Antonin Dvorák







 



Antonín Dvořák ra
đời tại Nelahozeves, Bohemia vào ngày 8/9/1841. Cha ông là một
chủ quán trọ nhưng lại yêu âm nhạc, nhất là các ca khúc và biết
chơi đàn zither (một loại đàn dây gảy, phổ biến ở Áo và Bavaria)
khá thành thạo và biết đôi chút về violon.




 




 







 




Khi còn nhỏ, Antonín thường theo
cha mỗi khi ông chơi nhạc trong một ban nhạc nhỏ của làng. Cậu
bé Antonín học violon và tiếp xúc nhiều với các vũ điệu dân
gian, các tiết tấu đặc biệt trong âm nhạc của người bohémian.
Cậu cũng đã tham gia vào ban hợp xướng nhà thờ, nhưng bài học
chính của Antonín trong thời gian này là lắng nghe âm nhạc đặc
biệt của vùng quê nơi ông ở. Tuy nhiên, ước mơ của cha Dvořák
đặt nơi cậu con trai không liên quan gì đến âm nhạc. Ông muốn
Antonín nối nghiệp ông để thành một chủ quán trọ. Vì thế, đến
năm Antonín 14 tuổi, ông gửi con đến Zlonice để học thêm tiếng
Đức. Tại đây, Antonín gặp gỡ và làm quen với một người bạn của
bác mình là thầy dạy nhạc nhiệt tâm: Antonín Liehmann. Ông này
đã nhận ra tài năng âm nhạc đặc biệt tiềm ẩn nơi cậu bé Dvořák,
và đã dạy thêm cho cậu viola, organ và piano. Ông ta cố thuyết
phục cha của Antonín gửi cậu đến Praha để học thêm về âm nhạc
dưới sự trợ giúp tài chính của người anh. Dvořák mang nặng ơn
người thầy đầu tiên của mình. Sau này, vào năm 1880, nhân ngày
giỗ đầu của Liehmann, Antonín Dvořák đã chỉ huy một buổi hòa
nhạc ở Zlonice để gây quĩ xây mộ cho thầy. Và sau đó, ông còn
viết một vở opera mang tên “The Jacobin”, hình tượng chính là
một thầy giáo làng được xây dựng theo hình ảnh của Liehmann.








 




Vào tuổi 16, Antonín Dvořák sống
cuộc đời một du học sinh xa nhà, học tại trường dạy Organ ở
Praha, nhưng sau khi tốt nghiệp lại chơi violon và viola trong
Dàn nhạc Nhà hát kịch Quốc gia Praha. Mức thu nhập không thấm
vào đâu so với những khó khăn trong cuộc sống xa nhà và khoản
tiền trợ cấp hàng tháng từ người bác đã bị ngưng. Antonín Dvořák
ngày càng túng thiếu, về sau ông đã thú nhận cảnh sống chật vật
ấy: “khổ công học hành, thỉnh thoảng sáng tác, ôn tập nhiều hơn,
có nhiều thời gian suy nghĩ và…. ăn rất ít!”. Nói về những người
thầy của mình trong giai đoạn này, Dvořák đã tâm sự: “Tôi học ở
Thượng Đế, với chim muông, cây cỏ – và với chính mình”. Nhưng
trong thực tế, ở giai đoạn này, ông chịu ảnh hưởng chính của nhà
soạn nhạc người Bohemian hơn ông 17 tuổi, Bedřich Smetana, một
nhà chỉ huy dàn nhạc của Nhà hát kịch Quốc gia. Do tiếp xúc gần
gũi với Smetana và nhất là qua sự tham dự vào buổi công diễn ra
mắt vở opera dân tộc của Smetana, “The Bartered Bride” (Cô dâu
được tráo đổi), Antonín Dvorak đã hướng suy nghĩ của mình vào
việc sáng tác âm nhạc dân tộc Bohemian.




 




Dvorak's father Franz and with Josephina Duskova,
his aunt







 



Năm 1873, Dvořák
bỏ việc làm trong dàn nhạc để trở thành nhạc công đàn organ cho
nhà thờ Thánh Adalbert, và ít lâu sau đó, cưới cô học trò là
Anna Cermáková. Từ giai đoạn này trở đi, sức sáng tạo của ông
phong phú hơn và mạnh mẽ hơn. Năm 1874, ông cho công diễn“Bản
giao hưởng cung Mi giáng trưởng” và tác phẩm này đoạt giải
thưởng quốc gia Áo vào năm sau đó. Tiếng tăm của Antonín Dvořák
ngày càng lan rộng. Với tác phẩm theo phong cách Bohemian, “Airs
from Moravia” (Những khúc nhạc từ Moravia) ông lại đoạt được
giải của Hội đồng Âm nhạc Áo với phần thưởng là khoản tiền trợ
cấp hằng năm. Nhưng điều quan trọng hơn cả tiền bạc đó là, nhờ
giải thưởng này, ông làm quen và được sự dẫn dắt, bảo trợ của
nhà soạn nhạc thiên tài Johannes Brahms, một thành viên của Hội
đồng.



Năm 1884, Antonín
Dvořák được mời đến London đến chỉ huy ba buổi hòa nhạc những
tác phẩm của ông. Ông đã rất nổi tiếng nên có buổi đã có đến
12.000 khán thính giả!



Năm 1892, nhờ lời
mời và sự hỗ trợ của bà Jeanette Thurber, người đã có công lớn
trong việc thành lập Nhạc viện Quốc gia tại New York vào năm
1885, Antonín Dvorak được mời đến đây làm giám đốc. Đến lúc này,
với mức lương hằng tháng gấp 20 lần so với mức ông có thể kiếm
được tại Praha, cuộc đời ông đã thay đổi, kèm theo đó là sự
trọng vọng của giới âm nhạc chuyên nghiệp còn non trẻ của nước
Mỹ. Mặc dù vậy, Dvořák luôn nhớ về quê hương. Đó cũng chính là
nguyên nhân ông sáng tác bản giao hưởng lừng danh làm cho tên
tuổi ông trở thành bất tử. Đó là giao hưởng: “From the New
World” (Từ Tân thế giới) được ông cảm hứng từ những ca khúc của
người da đen (negro songs).



Giao hưởng ”From
the New World” được công diễn lần đầu tiên bởi dàn nhạc New York
Philharmonic dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Anton Seidl vào
ngày 15/12/1893. Sự thành công của tác phẩm này thật rực rỡ.
Ngay sau buổi ra mắt đầu tiên ở New York, dàn nhạc giao hưởng
Boston đã dàn dựng vào 2 tuần sau đó và suốt từ năm 1895 đến
1897, nó lại được dàn dựng mỗi mùa ít nhất là một lần.



Cho dù những vinh
quang rực rỡ như thế, Antonín Dvořák vẫn chỉ mong muốn trở về
quê hương. Chỉ sau 3 năm ở New York, ông đã quay về Praha vào
năm 1895. Đến năm 1901, Antonín Dvořák trở thành giám đốc Nhạc
viện Praha và giữ chức vụ này đến cuối đời. Vào năm 1904, Nhà
hát kịch Quốc gia giới thiệu vở nhạc kịch “Armida” của ông.
Không lâu sau, vào ngày 5/5/1904, Dvořák qua đời tại Praha. Ngày
hôm đó là một ngày quốc tang.




 




Dvoràk's autograph of the Symphony "From new
world"







 



Trong số các sáng
tác của ông, những tác phẩm nổi tiếng nhất lại không được xây
dựng trên các chất liệu bohemian mà lại từ dân ca Mỹ. Các ca
khúc negro đã tạo ấn tượng sâu sắc nơi ông. Ông đã mô phỏng
những giai điệu này trong bản giao hưởng số 9, “From the New
World” và trong “Concerto cho cello và dàn nhạc”. Về giao hưởng,
Antonín Dvořák đã viết 9 bản. Thật ra, bản “Giao hưởng số 5”
cung Mi thứ được biết đến nhiều hơn và có chất lượng cao hơn
“From the New World”. Ngoài ra, còn hai giao hưởng đáng chú ý
khác là:”Symphony No.7, in D minor” (1885) và ”Symphony No.8, in
G major” (1889). Đối với các nhà chuyên môn, chính bản giao
hưởng số 7 lại là một tác phẩm hoàn chỉnh hơn cả “From the New
World”.




 




Dvorak's wife Anna Cermakova







 




Ngoài ra ông còn có nhiều tác phẩm
nổi tiếng khác viết cho dàn nhạc, nhạc thính phòng, nhạc cho đàn
phím. Về thanh nhạc và thanh khí nhạc, Antonín Dvořák đã sáng
tác 1 oratorio, 9 opera, một số cantata và nổi tiếng nhất là tác
phẩm tôn giáo: “Stabat Mater”. Antonín Dvořák đã làm việc hăng
say trong suốt cuộc đời 63 năm của mình như một nhà soạn nhạc
hàng đầu của đất nước Tiệp Khắc và thế giới.



 


#21 trangtracy105

trangtracy105

    Người bạn mới đến

  • Members
  • 1 bài viết

Achievements

                             

Đăng vào: 22 October 2005 - 05:02 PM

hơhơ..........mỏi mắt wá!!!!!!!!! Thông tin cũng hay, nhưng mà hơi dài quá kô đấy! Có bản nhạc nào của ông mozart, bethoven, hay là haydn kô? tui đang cần đây.

#22 nna_votinh

nna_votinh

    Thành viên quen thuộc

  • Members
  • 243 bài viết
  • Yahoo:
  • Giới tính:Nam

Achievements

                             

Đăng vào: 12 November 2005 - 06:05 PM

đọc những thứ này bạn sẽ hiểu đc fần nào vê` các loại nhạc nổi tiếng
Ban muốn nghe những cái đó thì trước tiên bạn nên hiểu về nó nha
(¯`•¸·´¯)maiyeunguoi(¯`•¸·´¯)

#23 Kenzo

Kenzo

    Dust in the wind

  • Hội yêu nhạc
  • 4540 bài viết
  • Giới tính:Nữ

Achievements

                             

User's Awards

           

Đăng vào: 08 June 2006 - 07:40 AM


Các giai đoạn chính của nhạc cổ điển
Các tác phẩm âm nhạc cổ điển được phân chia theo các giai đoạn chính sau:

Trung cổ, thông thường được coi là giai đoạn trước 1450. Giai đoạn này đặc trưng bởi thể loại Thánh ca (Chant), còn gọi là đồng ca nhà thờ hay Thánh ca Gregory.
Phục hưng, khoảng từ 1450-1600, đặc trưng bởi sử dụng nhiều sự phối dàn nhạc và nhiều loại giai điệu.
Barốc, khoảng 1600-1760, đặc trưng bởi việc dùng đối âm việc phổ biến của nhạc phím và nhạc dàn.
Cổ điển, khoảng 1730-1820, là một giai đoạn quan trọng đã đặt ra nhiều chuẩn biên soạn, trình bày cũng như phong cách.
Lãng mạn, 1815-1910, là một giai đoạn mà âm nhạc đã vào sâu hơn đời sống văn hoá và nhiều cơ quan giảng dạy, trình diễn và bảo tồn các tác phẩm âm nhạc đã ra đời.
Thế kỷ 20, thường dùng để chỉ các thể loại nhạc khác nhau theo phong cách hậu lãng mạn cho đến năm 2000, bao gồm Hậu Lãng Mạn, Hiện Đại và Hậu Hiện Đại.
Thuật ngữ âm nhạc đương đại thường được dùng để gọi âm nhạc tính từ đầu thế kỷ 21.
Tiếp đầu ngữ tân thường được dùng để chỉ âm nhạc thế kỷ 20 hay đương đại được soạn theo phong cách của các giai đoạn trước đây, như cổ điển, lãng mạn, v.v. Ví dụ như tác phẩm Classical Symphony của Prokofiev được coi là một tác phẩm "Tân Cổ Điển".
Việc chia các thời kỳ âm nhạc phương Tây ở một mức độ nào đó là không hoàn toàn chặt chẽ, các giai đoạn thể gối lên nhau. Ngoài ra mỗi giai đoạn lại có thể được chia nhỏ theo thời gian hoặc phong cách.

Biểu đồ dưới đây liệt kê các nhà soạn nhạc cổ điển nổi tiếng nhất theo các thời kỳ.
user posted image


Âm nhạc phương Tây giai đoạn Cổ điển

Trong lịch sử âm nhạc, thuật ngữ nhạc cổ điển còn có một nghĩa ít khi dùng để chỉ âm nhạc thuộc giai đoạn trong lịch sử âm nhạc tính từ thời Carl Philipp Emanuel Bach cho đến Beethoven -- tính ra khoảng từ 1730–1820. Khi dùng theo nghĩa này, thông thường hai chữ c và đ trong nhạc cổ điển được viết hoa để tránh nhầm lẫn.


Hình ảnh đã đăng

#24 sonate_kb93

sonate_kb93

    JFC_Bianconeri

  • Members
  • 1153 bài viết
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:18 in Hell

Achievements

                             

User's Awards

     

Đăng vào: 02 May 2007 - 11:27 PM

em cần tìm các tác phẩm của tác giả Johann Pachelbel ai có bít xinchỉ giúp thank




0 người đang đọc chủ đề này

0 thành viên, 0 khách, 0 người xem ẩn danh

dd
Giao lưu kết bạn Mảnh đất tình yêu Thế giới giải trí Hình ảnh đẹp Văn hóa nghệ thuật Học hỏi, trao đổi Âm nhạc


Copyright © 2017 Your Company Name