Tới nội dung

IPB Style© Fisana
 




- - - - -

Những nhà soạn nhạc thiên tài


31 trả lời cho chủ đề này

#1 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 09:50 AM


Mozart




Wolfgang Amadeus Mozart, một thiên tài kỳ diệu của nền nhạc thế
giới. Cuộc đời và số phận của ông đã luôn là nguồn cảm hứng của văn
học và điện ảnh.










Wolfgang Amadeus Mozart
Wolfgang Amadeus Mozart

Mozart sinh ngày 27 tháng Giêng năm 1756 tại thành
Salzburg, nước Áo, mất tại Vienna ngày 5 tháng 12 1791.


Là con trai của Leopold Mozart và sớm nổi tiếng là
thần đồng, lên bốn tuổi Mozart đã có thể trình diễn trên đàn piano và
harpsicord (một loại đàn phím, tiền thân của Piano).


Năm tuổi Mozart bắt đầu sáng tác, không lâu sau đó
đã là một tay chơi organ (đại phong cầm) và vĩ cầm xuất sắc.


Mozart sáng tác bản giao hưởng đầu tiên năm lên 8
tuổi, vở opera, hay nhạc kịch đầu tiên năm 12 tuổi và vào thời điểm
đó đã là một chỉ huy dàn nhạc tài ba.


Cậu bé Mozart quả là một phép màu của chúa trời
nơi trần thế, hay cụ thể hơn là ở thành Salzburg.


Từ năm 1765, ông Leopold cha của Mozart, một nhạc công
của nhà thờ thành phố Salzburg, đã đưa Mozart và chị gái Maria Anne
của ông lưu diễn trên khắp các thành phố lớn của Châu Âu như London,
Paris.


Tài năng của Mozart đã làm cho cả đức giáo hoàng La
Mã kinh ngạc.


Cậu bé thần đồng đã thuộc lòng và ghi lại một
tác phẩm cấm công bố ra ngoài của giáo hội La Mã chỉ sau một lần
nghe nhưng đức Giáo Hoàng đã rộng lượng với thiên tài nghịch ngợm
này.


Âm nhạc


Âm nhạc của Mozart trong sáng, đẹp đẽ, tinh khiết
đến lạ lùng giống như một sản phẩm của tự nhiên. Mọi người, mọi lứa
tuổi, ngành nghề đều có thể thưởng thức và yêu thích âm nhạc của
ông.


Không phải ngẫu nhiên khi các nhà khoa học đã nói
rằng nghe âm nhạc Mozart sẽ làm nâng cao khả năng trí tuệ.


Khi được hỏi làm sao có thể sáng tác một thứ âm
nhạc hoàn hảo đến như vậy ông đã trả lời: Tôi không biết sáng tác
khác theo cách khác
.






















Các tác phẩm tiêu biểu
 


Opera Đám Cưới Figaro


Giao hưởng No. 40 G minor K550 & No. 41 C major Jupiter, K551


Piano Concerto No. 20 D minor K466 & No. 23 A major K488


Serenade B Flat major dành cho nhạc cụ hơi, K361


Requiem, K 626


String Quartet B Flat major, K458 “ Hunt”



 

 

Với Mozart âm nhạc phải luôn đẹp đẽ và ngay trong vẻ
đẹp đến lung linh ấy ông có thể biểu cảm mọi cảm xúc và tâm trạng,
kể cả những bi kịch và nỗi đau sâu sắc nhất.


Những chuyến đi của cha con Mozart rồi cũng phải
chấm dứt và ông Leopold phải quay về công việc thường nhật là nhạc
công của nhà thờ khi vị tổng giám mục tiền nhiệm của thành Salzburg
vội về với chúa.


Vị tổng giám mục kế nhiệm, người không bị tài năng
của Mozart chinh phục, đã nổi giận khi phát hiện Leopold vẫn có tên
trong bảng lương tuy nhiều lúc hoàn toàn vắng mặt vì mải tháp tùng
Mozart đi lưu diễn.


Tuy đã sớm nổi tiếng nhưng sự nghiệp và cuộc đời
tự lập của Mozart chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1781, sau khi được viên
trợ tá của đức tổng giám mục Salzburg ban cho một cú đá nổi tiếng
vào mông.


Lý do là vì Mozart đã giãi bày theo một lối không
chính thống của nhà thờ những suy nghĩ của ông về đức tổng giám mục
mà Mozart thường gọi là thằng ngốc.


Từ biệt Salzburg


Năm 1781, ông rời Salzburg để chuyển đến thành Viena,
nơi ông luôn bận rộn với hàng loạt các buổi biểu diễn.


Ông sáng tác, trình diễn, dàn dựng các tác phẩm
giao hưởng và nhạc kịch. Ông điêu luyện với mọi hình thức âm nhạc.










Wolfgang Amadeus Mozart
Tên tuổi đã trở thành bất tử

Tiêu biểu như các vở nhạc kịch Cây Sáo Thần, Don
Giovani, Đám Cưới Figaro
, các bản Concerto cho Piano hay Violin
và dàn nhạc, hơn 40 bản Giao hưởng (Symphony), nhiều Tứ tấu
(Quartet) dành cho đàn dây.


Các bản sonata cho piano, violin và các nhạc cụ
khác..v.v.v và tuyệc tác Requiem.


Đã có lúc Mozart kiếm được khá tiền nhưng giai đoạn
sung túc chẳng kéo dài bao lâu vì tính cách trẻ thơ, phóng khoáng
nghệ sĩ chẳng bao giờ rời bỏ ông.


Ông luôn hoang phí tiền bạc tuy cha ông thường lo lắng
và nhắc nhở. Sức khỏe của Constanze, vợ ông, cũng là một áp lực tài
chính khi mang thai sáu lần chỉ trong tám năm, tiếc thay chỉ có hai con
trai sống sót.


Và Mozart lâm vào cảnh nợ nần, điều mà Leopold luôn
e ngại.


Bi kịch cuộc đời


Vì tính kiêu ngạo và cả sự hồn nhiên của mình mà
Mozart luôn có đầy dẫy kẻ thù. Đó là các nhạc sĩ ganh tị với tài
năng ông, trong đó có nhạc sĩ Ý Saleri, người bị buộc tội đầu độc
Mozart một cách oan uổng.


Các nhạc sĩ này luôn tìm cách ngăn cản việc Mozart
có một công việc với thu nhập ổn định.


Mozart thường xuyên phải viết thư vay mượn bạn bè.
Đôi lúc Mozart cảm tưởng ông sẽ không bao giờ thoát khỏi cảnh nợ nần.










Thành Salzburg, quê hương Mozart
Thành Salzburg lung linh trên đêm

Áp lực ông việc cộng với những lo lắng về tiền
bạc đã ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của Mozart vốn đã yếu ớt
vì những chuyến lưu diễn thời thơ ấu.


Năm 1787 ông Leopold qua đời ở tuổi 67, cho đến khoảng
khắc cuối cùng có lẽ vẫn trăn trở rằng cậu bé thần đồng của ông đã
không hiểu được con người và tiền bạc, đã có một cuộc hôn nhân sai
lầm và sẽ đi đến một kết cục tồi tệ.


Tiên đoán của Leopold đã trở thành sự thật. Đó
chính là số phận của Mozart, một trong những kết cuộc bi kịch nhất
của một thiên tài


Dù đối với bạn bè và đặc biệt là Constanze, Mozart
luôn là một người dễ thương đáng yêu và khôi hài.


Ông vốn hiếu động, nghịch ngợm như trẻ con nhưng
những nhọc nhằn của cuộc đời đã bào mòn bản chất trong sáng yêu đời
của Mozar.


Với cảm giác mệt mỏi, trống rỗng chiếm lĩnh
thường xuyên, ông trở nên ngày càng buồn bã.


Vào giai đoạn cuối đời của Mozart, một nhân vật kỳ
bí trong chiếc áo choàng đen đã gõ cửa tìm đặt viết bản cầu hồn
Requiem với yêu cầu không tiết lộ tên tác giả.


Trong tâm trạng bi quan, Mozart đã đã coi đây chính là
vị sứ giả của số phận và ông đã hối hả viết tác phẩm này với dự
cảm sẽ dành cho chính mình.










Wolfgang Amadeus Mozart
Mozart tại một quảng trường ở Salzburg

Mozart đã ra đi mà không kịp hoàn thành bản
Requiem
. Ông mất ngày 5 tháng 12 năm 1791 tại Vienna, một cái chết
bệnh tật đau đớn.


Mozart đã bật khóc trên giường bệnh, ý thức sẽ qua
đời mà chẳng để lại chút tiền bạc nào cho vợ và hai con trai.


Sự ra đi của một thiên thần


Thời đó chỉ có tầng lớp quý tộc mới được hưởng
các nghi thức tang lễ. Còn hầu hết thường dân chỉ được chôn chung trong
nghĩa trang ngoại ô, ba đến bốn xác trong một mộ.


Mozart đã được an táng như vậy. Người ta đem ông đi
trong một ngày bão tuyết, không một người bạn, người thân đưa tiễn, và
khi cơn bão tuyết qua đi, chẳng ai nhớ được đâu là nơi an nghỉ cuối
cùng của ông.


Mozart xứng đáng được đưa tiễn long trọng hơn cũng
như đã xứng đáng có một cuộc sống tốt hơn, điều khi sinh thời ông đã
không hề có.


Nhưng trong cuộc đời ngắn ngủi ba mươi lăm năm của
mình ông đã để lại một di sản âm nhạc to lớn và ông mãi là một thiên
thần âm nhạc đã đến với nhân loại nơi trần thế.


 









#2 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 09:54 AM



FRANZ
JOSEPH HAYDN

(1732-1809)


 



Người ta gọi Haydn là "cha đẻ" của giao hưởng và tứ tấu. Trước ông, các bậc tiền
bối đã viết rất nhiều tứ tấu, giao hưởng nhưng chỉ trong sáng tác của Haydn, các
thể tài này mới trở thành "cổ điển" theo nghĩa "kinh điển", "mẫu mực"



Rạng sáng ngày 31.3.1972, bà đỡ đẻ của làng Rorhau gần thành phố Vienna nước Áo
đón thằng bé con ông thợ mộc đóng xe ngựa vừa mới chào đời, mà không hề biết bà
đã nâng trên tay mình một nhà soạn nhạc vĩ đại của thế giới sau này: Joseph
Haydn.



Vào những buổi chiều rảnh rỗi, sau khi lắp xong chiếc bánh xe ngựa, ông thợ mộc
lại quẳng đồ

nghề vào góc nhà và ôm lấy cây đàn Harp, hát cùng những người nông dân trong
làng. Cậu bé Haydn đã được nuôi nấng bằng bầu sữa mẹ và tình yêu âm nhạc của cha
như thế.



Năm lên 8 tuổi, Haydn được Reutter đưa vào dàn đồng ca nhà thờ Thánh Stephen ở
Vienna, nơi ông làm Kapellmeister (chỉ huy dàn nhạc). Đây là trường đào tạo âm
nhạc duy nhất của haydn, mặc dù suốt 9 năm trời, cậu chỉ được chỉ huy ấy dạy cho
2 buổi học!





Khi Haydn bị mất giọng, ông Reutter cho Haydn ra đường. Để kiếm sống, anh đã
phải làm tất cả - từ dạy nhạc cho lũ nhóc con đến chơi violon trong những dạ
tiệc tưng bừng ở các cung điện nằm rải khắp hai bên bờ sông Danube, thậm chí
trên các quảng trường lúc nào cũng đông đúc người nhảy múa. Chính những năm này,
Haydn bắt đầu viết bản giao hưởng đầu tiên của mình. Rất nhanh chàng trai hiểu
rằng anh phải tự hoàn thiện mình nhiều nữa. Không đủ hoàn thiện mình để theo học
những nhà soạn nhạc, ca sĩ, nhà sư phạm Italia nổi tiếng Porpora, Haydn đã nhận
làm người đệm đàn cho ông và kiêm chức năng... người hầu!



 



Năm 1761, Paul Anton Esterhazy, một vị hoàng thân nổi tiếng giàu có người
Hungary, mến mộ tài danh Haydn nên đã mời ânh về làm Kapellmeistadt, một thành
phố nhỏ ở Hungary, cách Vienna chứng 30 dặm, hoàng thân Esterhazy đã dựng nên
một cung điện mùa hè theo quy mô của cung điện Versailles và haydn đã sống 30
năm ở đây. Vị hoàng thân là người yêu âm nhạc đến cực đoan. Theo yêu cầu của ông
ta và đám đông công nương,bá tước bạn bè ông ta, Haydn đã viết hết giao hưởng,
tứ tấu (quartet) này đến tứ tấu, giao hưởng khác. Lao động hết mình đã giúp cho
tài năng Haydn ngày càng hoàn thiện. tên tuổi ông bắt đầu vượt qua biên giới
nước Áo. Thế nhưng, hoàng thân Esterhazy luôn muốn thấy vị Kapellmeistadt "của
mình"xuất hiện khi ông giơ tay ra hiệu. vậy là ông không được ra khỏi lãnh địa
của vị hoàng thân này.



Mùa đông năm 1784-1785, Haydn gặp Mozart ở Vienna. Mặc dù hơn người cùng thời vĩ
đại của mình 24 tuổi, Haydn vẫn bị đắm say bởi âm nhạc của Mozart. Họ thường
cùng chơi các tứ tấu của Haydn (Mozart chơi Viola, Haydn chơi Violon) mà Mozart
thường nhận mình là học trò của Haydn trong thể tài này.



Cùng thời gian này, 6 bản giao hưởng Paris của ông được biểu diễn ở thủ đô nước
Pháp và thành công vang dội, những đặc sắc nhất trong số đó là bản giao hưởng số
45, còn được gọi là bản Giao hưởng "Giã biệt"



Tháng 11.1790, hoàng thân Esterhazy "già" chết, người thừa kế của ông ta, ông
hoàng trẻ thích những cuộc săn thú sôi động trên những cánh rừng, đồng cỏ hơn là
ngồi lặng trong phòng hòa nhạc để tắm trong dòng suối âm thanh kỳ ảo. Dàn nhạc
được giải tán. Nhưng lòng kiêu hãnh của dòng họ Esterhazy vẫn bắt ông ta giữ
Haydn nổi tiếng một cách hình thức trong chức vụ Kapellmeistadt không có dàn
nhạc! Haydn được nhận một khoản tiền lương để mãi vẫn là "người hầu" của gia
đình Esterhazy. Haydn chỉ được tự do khi đã gần 60 tuổi!



Năm 1792, ông trở về Vienna và gặp Beethoven. Beethoven đã hồi hộp đến run người
khi được Haydn nghe cậu chơi những sáng tác đầu tay của mình và xoa đầu! Haydn
đã tiên đoán được tương lai rực rỡ của nhà soạn nhạc vĩ đại người đức này.



Trong lần đến Anh đầu tiên, ông đã được nghe Oratorio của Hadel trong tu viện
Wesminster. Nó gây ấn tượng mạnh đến Haydn. Trở về Vienna ông viết 2 kiệt tác
cuối cùng của mình: Oratorio The Creation (1798) và The Seasons (1801)



Năm 1809, Haydn đã chết trên giường bệnh tại Vienna. Sau này, người ta đã đưa
thi hài ông về cung điện của Esterhazy.



Lao Động




#3 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 09:56 AM


Robert Schumann

(Zwickau, June 8, 1810 - Endenich, July 29, 1856)

German composer of the Tahomatic Period




1.Thân thế và sự nghiệp: Robert Schumann nhạc sĩ Ðức nổi tiếng thời kỳ lãng mạn.
Ông sinh ngày 8/6/1810 ở thành phố Zwickau thuộc tiểu vương Xắc-xôni. Gia đình
thuộc loại trung lưu khá giả. Bố làm nghề bán sách, sau đó mở hiệu in sách, có
tư tưởng tiến bộ và ý muốn dùng tủ sách làm nơi tuyên truyền. Từ nhỏ khả năng
của Schumann sáng tác thơ, viết kịch, nghiên cứu nền cổ điển Hy Lạp, hiểu biết
sâu về Xôfôc, Horatzi, Omir, Platon...Schumann cũng rất thích thơ ca đương thời
như của Bairon, Sile...cũng như nhà thơ lãng mạn Zăng Pol Richte, có nhiều ảnh
hưởng đến Schumann nhất. 15 tuổi dịch nhiều sách nước ngoài, viết kịch, viết
tiểu thuyết. Tự học âm nhạc và trở thành người chơi đàn nổi tiếng.


Năm 18 tuổi bố chết, mẹ của Schumann muốn ông trở thành luật gia nên đã đưa
đến Leipzig học trong trường luật nhưng Schumann không học luật ngược lại
Schumann tìm thầy dạy để có thể đi sâu vào âm nhạc ĐÓ LÀ FRIDRICH VIC- THẦY
PIANO NỔI TIẾNG. SCHUMANN RẤT THÍCH NHẠC CỦA SCHUBERT. Ở LEIPZIG SCHUMANN ĐƯỢC
NGHE PAGANINI, TAWAWMBE, Litx... biểu diễn và Schumann muốn vươn lên tới đỉnh
cao của nghệ thuật biểu diễn. Ông đã chế ra cái máy làm cho ngón út dài và ngón
4 nhạy hơn nhưng kết quả ngược lại không thành công mà đôi tay của ông bị hỏng,
vĩnh viễn phải từ bỏ con đường biểu diễn. Từ đó ông dồn tất cả sức lực vào lĩnh
vực sáng tác. Ông lấy em gái thầy dạy nhạc của mình là một pianist nổi tiếng tên
Clava Vích.


Những năm cuối đời Schumann đau đớn vì bệnh tật, sáng tác thưa dần cũng như
các hoạt động xã hội, cũng không thể lui tới được. Cho đến năm 1854 Schumann
không viết được gì nữa vì bệnh càng trầm trọng và ông đã mất ngày 29/7/1856.


2.Ðặc điểm sáng tác và tác phẩm:


a.Ðặc điểm sáng tác: - Là một nhà cách tân tương đối táo bạo luôn tìm cái mới
trong sáng tác như hoà thanh, tiết tấu, giai điệu nghe rất gần với hiện đại.

- Nội dung: Có tác phẩm mang tính CM sôi sục dấy loạn (có tính chất đập phá), có
những tác phẩm đi vào tâm hồn tình cảm con người, có những tác phẩm biểu hiện
tình cảm xa vời thực tế và cuối đời mang tính ẩn dật.

- Sáng tác và lý luận luôn gắn chặt với nhau


b.Tác phẩm:


- Cho piano: -1830 viết nhiều nhất gồm tiểu phẩm và tác phẩm có quy mô lớn
như sonata, concertos. Những tác phẩm tiêu bỉêu trong thời kỳ này như: Những con
bướm op.2 (1831); Toccata op.7 (1832); Etuyt giao hưởng op.9 (1834); Carnaval
op.9 (1835);Kreisleriana op.16 (1838); Những khúc ảo tưởng op.12 (1837); Novelti
op.21 và hai sonata fmoll op.11 và g- moll op.22.


- Ca khúc: Ða số viết năm 1840 những bài hát phỏng theo dân ca, những bài ca
trẻ em, những bài ca ngợi, chính ca. Những bài hát trữ tình loại này thành công
nhất.

- 1844-1849 Schumann sáng tác nhiều nhất. Ông viết cho thanh nhạc, cho đàn piano
cũng như tác phẩm thính phòng và hình thức lớn như giao hưởng thứ hai Cdur, nhạc
kịch Ghênôvêba. Ông thể hiện hàng loạt tác phẩm của mình với chủ đề CM như:"Hãy
cầm lấy vũ khí", "Bài ca tự do" và bốn hành khúc "Cộng hoà" cho piano.


- Tác phẩm phê bình âm nhạc: - 1834 xuất bản "Tạp chí âm nhạc mới" tại
Leipzig. Trong 10 năm vừa là biên tập chính, vừa là người công tác tích cực nhất
của tạp chí.





#4 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:03 AM



Ludwig
van Beethoven








 




Ludwig van Beethoven - thiên
tài âm nhạc người Đức, là người đã làm tinh tuý thêm cho âm nhạc cổ điển bằng
cách chuyển hoá nó thành một công cụ mạnh mẽ thể hiện những ý tưởng triết học
cũng như cảm xúc. Dấu ấn thiên tài của ông nằm ở cách mà ông tô điểm những khúc
tức hứng của mình và thiết lập chúng thành những kỹ thuật, mở ra những khu vực
mới, những con đường mới cho những người đi sau khám phá. Ông chính là người
khơi nguồn cho trào lưu âm nhạc Lãng Mạn. Và ông đã đạt được điều này mà vẫn
không cự tuyệt với những di sản của thời Cổ điển. Điều mang thêm lại sự sâu sắc
cho âm nhạc của ông chính là việc ông đã kiên nhẫn duy trì chiến đấu anh hùng
chống lại tật điếc tai quái ngày càng nặng, ông đã soạn ra nhiều kiệt tác của
mình trong những năm cuối cùng của đời mình khi ông đã điếc hoàn toàn.




 




Cuộc
đời




LV Beethoven sinh ngày 16
tháng 12 năm 1770 ở Bonn, Đức. Một điều thú vị là đến 40 tuổi ông mới biết là
mình nhầm, ông cho là ông sinh năm 1772.




 




Tiền
sử gia đình




Bonn là nơi ở của Đức Tổng
giám mục - Tuyển hầu (Archbishop-Elector) của Cologne trong thế kỷ 18. Người ông
nội tài giỏi âm nhạc của Beethoven, Ludwig Van Beethoven(ông) đã từ Flanders đến
định cư ở Bonn theo lời mời của Đức Tuyển hầu. Ông làm việc tại giàn hợp xướng
của Đức Tuyển hầu, đầu tiên là hát giọng nam trung và sau đó là chỉ huy. Ông đã
cưới một cô gái Bonn, Marie Poll. Trong số những đữa con mà họ có, chỉ có một
người Johann sống sót.




Bố của Beethoven, Johann van
Beethoven, cũng yêu thích âm nhạc nhưng trình độ của ông lại ở mức bình thường.
Ông trở thành một ca sĩ giọng nam cao ở trong đội hợp xướng của Đức Tuyển hầu
nhờ vào ảnh hưởng của Ludwig(người ông). Ông cưới cô Maria Magdalena Keverich
Laym, con gái của bếp trưởng của Cung Điện Tuyển hầu ở Treves, Ehrenbreitstein.
Học đã có 7 đứa con nhưng chỉ có 3 người sống sót, đó là Ludwig, Caspar Karl và
Nikolaus Johann. Gia đình Beethoven sống ở khu nghèo của Bonn. Tính cách mạnh
mẽ, dữ dội của Beethoven chính là ảnh hưởng của những năm thơ ấu này.




 




Giáo
dục




Việc đi học chính thống của
Beethoven gần như là không có. Ông học ở Tỉonicium trong 4 năm và phải thôi học
vào năm 11 tuổi




Ông đã cố gắng học một chút
tiếng Latin và tiếng Pháp. Nhưng ông chẳng thể đánh vần chính xác bằng bất kỳ
thứ tiếng nào. Về sau thì ông đã được đọc một ít sách hay từ tiểu thuyết của
Walter Scott tới thơ Ba Tư.




 





Những nốt nhạc đầu tiên




Beethoven được học nhạc từ
khi ông mới 4,5 tuổi. Cha ông muốn con mình trở thành một thần đồng như Mozart.
Ông đã bắt Beethoven tập piano suôt hàng giờ, nhiều đến mức mà Beethoven phải
khóc. Nhưng sau một thời gian, Beethoven đã hình thành khiếu âm nhạc. Johann đã
rất tự tin về tài năng của đứa con trai 8 tuổi của mình, và đã đưa Beethoven đi
biểu diễn trước công chúng vào ngày 26/3/1778. Thành công của buổi diễn đã động
viên ông đưa con trai đến học nhạc với những giáo viên khác.




Thấy
giáo đầu tiên của Beethoven là Van den Eeden, một người chơi organ cho cung điện
nhưng đã quá già. Đứa bé Beethoven phải luyện bằng cách chơi organ vào sáng sớm
mỗi hôm cho các nhà thờ ở Bonn.

Người thầy
tiếp theo là Tobias Friedrich Pfieffer, một pianist giỏi. Pfieffer và Johann
thường về muộn vào nửa đêm, say mềm, và lôi đứa bé tội nghiệp dậy, rời khỏi
giường và ngồi vào piano. Beethoven đã tìm thấy một người thầy tốt hơn đó là chú
ngoại Franz Rovantini, violinist của cung điện. Nhưng thật bất hạnh vì ông này
đã chết rất bất ngờ năm 1781.




 




Học nhạc ở
Cung điện




Cuối năm 1781, Beethoven trở
thành học viên của Christian Gottlob Neefe, organist mới của cung điện. Neefe
dạy Beethoven chơi organ và piano. Ông đa nhận thấy thiên tài âm nhạc ở người
học trò và cho Beethoven làm phụ tá của mình năm 1872. Neefe đã giúp Beethoven
xuất bản tập sáng tác đầu tiên : " Những biến tấu dựa trên một hành khúc của
Dressler" vào năm 1783.




Năm 1784,
Maximilian Francis trở thành Đức Tổng giám mục-Tuyển hầu mới ở Cologne. Ông là
một người rất yêu âm nhạc. Ông đã biến Bonn thành một thành phố ngân vang ( đoạn
củ chuối này khó dịch quá : culturally vibrant city) và đã mời nhiều đoàn opera
tới Bonn. Vì thế mà Beethoven được làm quen với những tác phẩm của Gluck và
Salỉeri. Cung điện bấy giờ có dàn nhạc 31 người, và Beethoven được chỉ định là
người chơi viola ở tuổi 14 và sau đó là organist đại diện của Cung điện. Ông
được trả 150 gulden một năm.




 




Gặp gỡ Mozart




Tài năng nở rộ
của Beethoven sớm được nhận ra, và vào năm 1787, Đức Tuyển hầu cho phép ông tời
Vienna để học sáng tác nhạc với Mozart. Beethoven đã gây ấn tượng mạnh cho
Mozart bằng sự sáng tạo của mình. Nhưng những bài học không kéo dài được lâu. Bố
của Mozart mất và Beethoven thì phải tức tốc về Bonn để gặp người mẹ đang ở
trong những giây phút cuối đời. Mẹ ông đã mất vì bệnh lao vào ngày 17/7, điều
nay gây cho Beethoven nỗi đau khôn xiết.




Nỗi đau mất vợ và việc giọng
hát ngày càng tồi tệ đã dẫn Johann tới con đường nghiện ruợu. Ông và bà của
Beethoven cũng là những người uống rượu rất nhiều, và chính Beethoven về sau
cũng dính vào ruợu. Beethoven phải gánh vác trách nhiệm cuả gia đình và bổ sung
thu nhập của mình bằng việc dạy học piano cho Eleonore và Lorenz, con của Đại
Quan Pháp đã mất Joseph von Breuning. Việc tiếp xúc với gia đình gia giáo này
càng làm ông tao nhã (refined) hơn.




Qua gia đình Breuning,
Beethoven đã nhận được một số đề nghị dạy nhạc của các gia đình khá giả. Ông
cũng đã gặp bá tước Ferdinand von Waldstein, một người yêu âm nhạc. Ông đã
thường xuyên tặng tiền cho Beethoven và bảo ông đó là quà của Đức Tuyển hầu.
Thấy được hoàn cảnh khốn khó của gia đình Beethoven, ông dùng ảnh hưởng của mình
để cho bố Beethoven hưởng lương hưu, và một nửa trả trực tiếp cho Beethoven.




Khi hoàng đế La Mã Thần
Thánh (Holy Roman Emperor) băng hà năm 1790, Waldstein đã yêu cầu Beethoven sáng
tác một khúc tang nhạc. Nhưng nó đã không được chơi vì các nhạc công đã không
thể chơi nổi. Beethoven cũng đã sáng tác một khúc nhạc tôn vinh hoàng đế mới
Leopold II. Sau này, ông đã tặng bản sonata 21 cho piano ở cung Đô trưởng, op 53
cho Waldstein.




 




Gặp gỡ Haydn




Franz Joseph
Haydn, nhà soạn nhạc vĩ đại nhất của Viennna thời bấy giờ đã có dịp dừng chân ở
Bonn trên đường trở về từ một chuyến đi London năm 1970. Beeethoven đã gặp Haydn
và trình tấu một bản cantata mới sáng tác. Haydn đã rất ấn tượng và đề nghị mang
ông về Vienna. Đức Tuyển hầu đã đồng ý. Beethoven rời Bonn năm 1792. Về sau thì
quân đội Napoleon chiêm Bonn và Beethoven đã không trở về Bonn nữa.




 




Học nhạc ở
Vienna




Beethoven đến
Vienna với tư cách là một chàng chai hứa hẹn tuổi 22. Ông thấp, da ngăm đen. Ông
có bộ mặt rỗ, không hấp dẫn, với cái mũi dẹt, và đôi mắt sâu hoắm. Vũ khí duy
nhất của ông để chiếm giữ thành phố mới này, thành phố mà tiêu chuẩn âm nhạc đòi
hỏi rất cao, chính là tài năng âm nhạc của mình. Nhưng ngay tháng sau đó, cha
ông mất vì bệnh phù tim. Đức Tuyển hầu đã không những không cắt bỏ phần chia
lương hưu của cha ông mà còn gâp đôi nó lên.




Haydn bắt đầu dạy Beethoven
với học phí rất thấp. Beethoven đã rất sớm xa rời khỏi những luật lệ sáng tác đã
được thiết lập, cũng như ông thấy rẳng những kỹ thuật đã được chấp nhận là không
đủ. Haydn cảm thấy những sự đổi mới này là không thể chấp nhận được. Beethoven
thì cảm thấy ông chẳng phải học gì nhiều ở Haydn nữa, và vì thế thôi học vào năm
1793. Sau đó ông đến với organist ở Nhà thờ St.Stephen's, Johann Georg
Albrechtsberger, để học về đối âm (counterpoint). NHững bài học này đã giúp ông
phát triển về kỹ thuât một cách toàn diện. Người thầy tiếp theo của Beethoven là
Antonia Salieri, giám đốc nhà hát Opera Vienna. Ông đã dạy Beethoven về sáng tác
thanh nhạc. Thái độ phản đối của Beethoven đối với nhạc lý hình thức khuôn mẫu
chính là điều làm cho tất cả các thầy giáo của ông khó chịu. Một chuỗi các cuộc
biểu diễn năm 1795 đã đánh dấu sự kết thúc việc học nhạc chính thức của ông.




 




Giai đoạn thứ
nhất 1792-1802




Hầu hết các sáng tác của
Beethoven trong giai đoạn thứ nhất thuộc về âm nhạc thình phòngm chủ yếu dựa
trên piano. Mặc dù ông cố gắng thoát khỏi những quy ước, nhưng những ảnh huởng
của Haydn và Mozart có thể được nhận thấy rõ qua những tác phẩm này. Ông cũng
thành công trong việc làm ngạc nhiên thính giả bẳng việc mang lại những nhân tố
mới thông qua những kỹ thuật có được từ những khúc tức hứng.




Buổi trình
diễn đầu tiên của Beethoven được tổ chức ở Burgtheater vào 29-30/3/1795. Ông đã
chơi Op19, Piano concerto số 2. Ông cũng đã viết một số vũ khúc. Ông cũng đã
xuất bản Op 1, 3 Trios cho piano, violin và cello vào ngày 17/10/95. Thế giới âm
nhạc đã phát hiện ra người tiếp nối di sản của Mozart.




Việc Bonn bị
chiếm giữu đã cắt đứt nguồn viên trợ kinh tế cho Beethoven. Beethoven đã trở
thành một pianist nổi tiếng. Ông đã tìm được 2 nhà tài trợ ở Vienna. Hoàng tử
Karl Lichnowsky đã mời ông đến chơi nhạc thứ sáu hàng tuần. Sau đó năm 1799,
Beethoven đã tặng bản sonata số 8 cho piano Op 13, "Pathetique" cho ông. Một nhà
tài trợ khác quan tâm hơn tới âm nhạc đó là Hoàng tử Lobkowitz, chính ông cũng
là một violinist vĩ đại. Bất chấp những chuyện bất hoà nhỏ, mối quan hệ này đã
tồn tại rất lâu.





Beeethoven tham dự những
buổi diễn ở

Berlin và
Prague suốt những năm tiếp theo. Những dự định biểu diễn tiếp theo của ông đã
phải huỷ bỏ vì quân đội Napoleon đã tiến gần Vienna vào năm 1797. Quân Pháp tràn
qua Vienna. Nhưng do Beethoven ủng hộ những người cộng hoà, ông đã ngưỡng mộ
Napoleon. Ông đã không băn khoăn tham gia tiệc chiêu đãi của đại sứ Pháp, tướng
Bernadottle. Beethoven đã sáng tác 2 bản concerto, một bản thất tấu, bản giao
hưởng số 1 năm 1800 và Sonata Ánh trăng năm 1801.




 




Bị điếc : chúc thư
Heiligenstadt





Từ trước 1800, Beethoven đã
bắt đầu nhận ra rằng tai ông ngày càng tồi tệ. Đối với một nhạc sĩ thì quả là
không còn điều gì có thể tồi tệ hơn được. Ông đã không đủ can đảm để tiết lộ
điều này với công chúng. Ông trở nên rất cáu kỉnh và đã thôi tham gia các hoạt
động xã hội. Ông thổ lộ nỗi ưu phiền này đầu tiên với những người bạn thân của
mình Franz Gerhard Wegeler và Carl Amanda vào năm 1801. Nhưng Beethoven vẫn nuôi
hi vọng. Ông tới Heiligenstadt, một làng quê nhỏ gần Göttingen, nơi có những nhà
tắm lưu huỳnh mà người ta cho là có công dụng y học. Một hôm, ông thấy một người
chăn cừu thổi sáo, nhưng ông không thể nghe thấy gì cả. Đó chính là lúc mà ông
nhận ra sự trầm trọng của căn bệnh. Ông chỉ có thể nghe được những âm thanh to
của dàn nhạc. Vào tháng 6 năm 1802, ông viết chúc thư Heiligenstadt.




Beeethoven viết chúc thư này
cho các em của mình " để thực hiện sau cái chết của ông". Nhưng ông đã không gửi
nó cho họ, nó chỉ được tìm thấy trong đống giấy tờ của ông sau khi ông chết. Văn
bản này đã cho thấy ông đã phải chịu đựng rất nhiều trong im lặng, biết rằng
bệnh tình đang tồi tệ hơn, không thể đảo ngược được. Việc mất khả năng nghe đã
làm cho ông không thể thưởng thức âm nhạc, mà cũng chẳng thể hưởng thụ những
cuộc vui nữa. Chúc thư đã cho thấy tính cách mạnh mẽ của con người đối mặt với
sự thật nghiệt ngã.



(Còn tiếp)




#5 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:04 AM



Ludwig
van Beethoven


 




(tiếp) 


 



Giai đoạn thứ hai, 1803-1816



Beethoven sáng
tác càng nhiêu hơn trước khi bệnh tình trở nên tồi tệ. Ông chẳng có cách nào tự
chơi các sáng tác của mình. Các bản nhạc của ông trong giai đoạn này mang nhiều
tính phiêu lưu, vượt khỏi những ước lệ truyền thống trong sáng tác. Beethoven
sáng tác phần lớn những tác phẩm trong giai đoạn này.



Chỉ ngay sau
khi viết bức chúc thư, ông đã hoàn thảnh bản giao hưởng số 2 vào tháng 11 năm
1802. Vào năm 1803 ông sáng tác bản giao hưởng số 3 Eroica, một trong những kiệt
tác vĩ đại. Bản giao hưởng đánh dấu sự bắt đầu của giai đoạn sáng tác thứ 2 của
ông, rất độc đáo và không một chút nào nằm trong phong cách truyền thống.



Beethoven coi
Eroica là bản giao hưởng hay nhất trong số các bản giao hưởng của ông. Là một
người Cộng hoà từ trái tim, ông đã định tặng nó cho Napoleon. Ông nghĩ rằng
Napoleon là hình ảnh thu nhỏ của tinh thần Cộng hoà. Nhưng sau đó, Napoleon đã
tự lên ngai, và Beethoven đã hoàn toàn thất vọng. Bản giao hưởng được xuất bản
vào năm 1805, tiêu đề là " Bản giao hưởng anh hùng ca ngợi ký ức về một con
người vĩ đại ". Nó được trình diễn ở nhà hát Theatre-an-der-Wien vào ngày
17/4/1805.



Vào ngày
20/11/1805, một tuấn sau khi quân Napoleon chiếm đóng Vienna, buổi ra mắt vở
opera Leonore của ông được tổ chức. Nhưng chỉ có vài quan chức Pháp tham dự.
Beethoven đã rút ngắn và sửa đổi nó nhưng lần thứ 2 trình diễn vào năm 1806 cũng
không thành công. Ông đã rút nó khỏi chương trình biểu diễn vì lý do bất đồng
với nhà quản lý. Lần thứ 3 biểu diễn 8 năm sau, lúc ấy đã đổi tên là Fidelio,
mới thành công.



Sau đó,
Beethoven đã cho ra đời vài tác phẩm khác, mà sau này phần lớn đều trở thành
kinh điển. Đó là bản Piano Concerto số 4, bản Sonata Appasionata và các bản tứ
tấu Razumovsky. Buổi trình diễn hai bản giao hưởng số 5 và 6 được tổ chức vào
22/12/1808. Sau đó ông đã viết nên bản piano concerto tuỵet vời nhất, bản
concerto "Hoàng đế".



Năm 1808,
Beethoven nhận lời đề nghị của vua xứ Westphalia, Jérôme Bonaparte, làm chỉ huy
dàn hợp xướng và dàn nhạc hoàng gia ở Cassel với mức lương 600 ducat vàng một
năm. Hoàng tử Rodoft đã giữ ông ở lại Vienna bằng cách bảo đảm cho ông thu nhập
hàng năm 4000 florin, được góp bởi Hoàng tử Lobkowitz, Công tuớc Kinsky và chính
ông.



Buổi trình
diễn cuối cùng của ông với vai trò là người biểu diễn piano là vào tháng 4/1814.
Ông chơi tác phẩm trong sáng nhất Op 97, một bản tam tấu cho piano, violin và
cello. Bản giao hưởng số 7 và 8 cũng được sáng tác trong giai đoạn này. Vào ngày
8/12/1813, Beethoven cho biểu diễn bản giao hưởng số 8 Battle(tạm dịch "Chiến
trận") để ca ngợi chiến thắng của Wellington trước Napoleon. Bản giao hưởng đã
trở nên rất phổ biến, Beethoven lần đầu tiên được nếm vị thành công.




Tình yêu



Nawm
1795, Beeethoven dư định cưới Magdalena Willman, nhưng bị từ chối. Nhưng ông
thực sự đâm đầu vào các vụ tình ái trong giai đoạn thứ 2 , khi mà ông có nguồn
cung cấp tài chính ổn định. Người đầu tiên mà ông có ý định cưới nghiêm túc là
cô học trò 17 tuổi, nữ bá tước Giulietta Guicciard, vào năm 1801. Ông đã tặng
bản Sonata Ánh trăng cho bà này, nhưng rất tiếc bà này lại đi lấy bá tước
Gallenberg.



Sau
đó năm 1805, người mà Beethoven để ý đến là em họ Giulietta, nữ bá tước
Josephine von Deym, người đã trở thành goá chồng một năm trước đó. Họ tiếp tục
gặp gỡ trong 3 năm tiếp theo những mọi chuyện kết thúc vì sự do dự của ông, và
sự phản đối của gia đình Josephine.




Beethoven sau đó đã si mê bà Marie Bigot (năm 1807). Ông đã phải xin lỗi khi
chồng bà tỏ ý không vừa lòng, và mọi điều kết thúc.



Sau
này, Beethoven đã lao vào một cuộc tình ái nghiêm túc với Therese Malfatti, một
học trò khác của ông. Nhưng nhữgn kế hoạch của ông để cưới cô đã thất bại !!!




Những vụ ái tình của Beethoven quả là rất nổi tiếng, nhưng 3 bức thư tình thú vị
đã được tìm thấy sau cái chết của ông. Được ông viết, những bức thư này đã không
được đề tên, địa chỉ và không được gửi đi. Nhận dạng của người đàn bà đã không
được xác định. Có dấu hiệu cho thấy đó hoặc là nữ bá tước Guicciardi-Gallenberg
hoặc là nữ bá tước Therese von Brunswig.



Gặp
gỡ Goethe



Nhạc
sĩ vĩ đại nhất và tác giả vĩ đại nhất đã gặp nhau ở Teplitz, một watering place
ở Bohemia, vào năm 1812. Cả 2 đã ngồi 2 đêm với nhau. Trong một trong những lần
đi dạo cùng nhau, họ đã gặp hoàng hậu và các công tước. Goethe đã đứng sang một
bên với chiếc mũ hạ khỏi đầu tôn kính. CÒn Beethoven cứ thế đi thẳng qua, ngạo
mạn, khi mà những vị qúy tộc đó nhường đường cho ông, và chờ Goethe ở đườgn bên
kia. Ông nói với Goethe :'Tôi đợi anh vì tôi kính trọng anh, vì anh đáng được
như vậy, nhưng mà anh đã cho cái bọn kia hơi bị nhiều vinh hạnh đấy'. Beethoven
đã viết sau đó, rằng Goethe đã quá ưa thích không khí của cung điện, hơn cả trở
thành một nhà thơ.




Trong một lần đi dạo khác, cuộc trò chuyện của họ bị ngắt quãng bởi những người
qua đường chào họ. Khi Goethe biểu lộ sự bực tức, Beethoven đã nói 'Đừng để tâm
đến vấn đề đó, có lẽ những lời chào là dành cho tôi đấy'. Goethe đã viết rằgn
Beethoven có một nhân cách hoàn toàn untamed(em cũng chả biết dịch thế nào đây),
và " một nghệ sĩ tự cho mình là trung tâm (self-centered) và rất mạnh mẽ hơn bất
kỳ ai ông đã gặp. Tôi có thể hiểu rõ rằng thái độ của ông ta với thế giới này
đặc biệt thế nào."



Giai
đoạn thứ 3, 1817-1824



Cuộc
cách mạng chống lại những ước lệ cổ điển đã trở nên rõ ràng trong giai đoạn sáng
tác thứ 3 của ông. Ông đã báo trước thơì kỳ Lãng mạn trong âm nhạc bằng cách đưa
ra những diễn đạt tự do hơn nữa. Ba bản Hammerklavier sonatas đã đánh dấu sự
chuyển đổi từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3. Lòng nhiệt tình của ông với sự tự do
thật mãnh liệt, đến nỗi ông đã từ bỏ những quy ước về những thuật ngữ tiếng Ý.
Ông đã đặt ra tên tiếng Đức hammerklavier thay cho pianoforte (tiếng Ý), và lấy
luôn tên này cho các bản sonatas.



Bản
hammerklavier thứ 2, opus 106 cung Si giáng trưởng, năm 1818-1819, là bản sonata
tuyệt vời nhất của ông. Nó biểu lộ tuyệt vời sự không chấp nhận của ông đối với
sự tuyệt vọng, và sự chịu đựng ngoan cường của ông khi chấp nhận tuổi tác và tật
điếc quái ác.



Tác
phẩm lớn tiếp theo của ông là bản Mass( nhạc cho lễ Misa ) Missa Solemnis. Nó
được đặt để trình diễn trong lễ lên ngôi của hoàng tử Rudolph, lên chức tổng
giám mục Olmütz. Nhưng Beethoven đã không hoàn thành kịp. Missa Solemnis thể
hiện sự tin tưởng vững chắc ở Chúa. Beethoven đã bán bản này cho 10 vị vua, 50
ducats mỗi bản.




Beethoven đã hoàn thành bản giao hưởng số 9 của mình, bản Đồng ca(Choral), thể
hiện triết lý trưởng thành cuối cùng của mình, vào tháng 2 năm 1824. Ông đã
tuyệt vọng trong việc xin trình diễn các kiệt tác với độ khó rất cao này của
mình ở Vienna. Nhưng ngay khi ông sắp sửa nhận lời mời của dàn nhạc Berlin thì
những người yêu nhạc ở Vienna đã góp tiền cho buổi trình diễn bản Missa Solemnis
và bản giao hưởng ĐỒng ca ở nhà hát Karntnarthor. Buổi hoà nhạc vào ngày
27/5/1824 đã là một thành công rất lớn. Beethoven đã không nghe thấy tiếng khán
giả vỗ tay, ông chỉ nhận thấy điều đó khi ông quay mặt về phía họ.




Beethoven được Hoàng tử Nikolai Galitzin đặt viết 3 bản tứ tấu, mang tên ông,
giá 50 ducats 1 bản. Ông đã viết nên 5 bản, opuses số 127,130,132, cho Galizin;
và 131,132. Beethoven đã viết lại chương 4 của bản Op.130 bởi vì những nhạc công
không thể chơi nổi đoạn quá khó này. Chương 4 này sau đó, được đưa vào Op.133,
bản Grosse Fugue. Op.131 cung Đô thăng trưởng được coi là bản tứ tấu đỉnh cao
nhất của Beethoven.




Quan hệ với cháu trai




Người brother của Beethoven Caspar Aton Carl mất năm 1815, và chỉ định vợ mình,
và Beethoven làm người đỡ đầu cho đứa con 8 tuổi Karl. Beethoven đã kéo Johanna
vào cung điện để chăm sóc một mình, vì cô bé đã khá hư hỏng. Karl không chịu
được sự tranh giành của mẹ lẫn Beethoven lâu. Sự việc này kéo dài đến năm 1820,
và Beethoven trở thành người đỡ đầu duy nhất. Bất chấp tình cảm mà Beethoven
dành cho đứa cháu này, đã có những cuộc chiến quyết liệt giữa họ. Thái độ hống
hách(overbearing) của Beethoven cuối cùng đã khiến Karl định tự tử vào năm 1826.
Việc này đã làm Beethoven hòan toàn shock. Ông đã đồng ý cho Karl theo đuổi sự
nghiệp trong quân đội.




Những ngày cuối




Beethoven đã phải đầu hàng bệnh viêm phổi, ngày 2/12/1826. Ông đã bắt đầu lạm
dụng frozen punch ( cái gì mà củ chuối thế 0 bít ) do bác sĩ chỉ định để ngủ
ngon. Da ông trở nên vàng vọt, người phì ra. Vào ngày 2/1/1827, Karl nhập ngũ và
rời Vienna. Tình trạng của ông đã trở nên tồi tệ hơn. Quyết tâm không dùng đến
10000 florins ông đã cất giữ cho cháu, ông viết một bức thư cho hội những người
yêu nhạc London vào ngày 6/3/1827, xin họ tổ chức một buổi diễn ủng hộ ông. Hội
này đã đồng ý và gửi trước cho ông 100 pounds.



Đến
khoảng 16/3 thì các bác sĩ đã cảm thấy Beethoven không sống lâu được nữa.
Beethoven đã ký di chúc vào ngày 23/3, để lại tất cả cho đứa cháu Karl. His
brother đã thuê một cha xứ cho lễ ban phước cuối cùng của ông. Beethoven đã thốt
ra cụm từ "Comedia finita est", cụm từ dùng để chỉ sự kết thúc của các vở kịck
Roman cổ. Khi rượu được gửi đến vào ngày 24/3, Beethoven đã nói "Tiếc thật, Tiếc
thật, quá muộn rồi". Và đó là những lời cuối của ông. Ông đã được cho uống một
ít rượu, và sau đó thì hôn mê.




Beethoven mất ngày 26/3/27, vào 5:30 chiều. Ngay trước lúc ông mất, một ánh chớp
và một tiếng sấm đã đánh thức Beethoven. Ông đưa tay lên và giật giật nắm tay đã
siết chặt. Những nghiên cứu sau này cho thấy ông còn bị mắc chứng xơ gan, tắc
động mạch, và thoái hoá dây thần kinh thính giác.



Ông
được chôn cất ở nghĩa trang Währing. Khoảng từ 10000 đến 20000 người đã tập
trung tại Schwarzpanierhaus tham gia tang lễ của ông vào ngày 29/3. Trong những
người cầm đuốc có Schubert và Grillparzer, và trong những người hộ tang có
Hummel, pianist, và Kreutzer, .violinist. Nhà văn vĩ đại nhất nước Áo lúc bấy
giờ, Grillparzer, đã viết nên bài văn tế cho tang lễ.




#6 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:07 AM



Schubert - Nhà trữ
tình vĩ đại


 

Nếu như gọi Beethoven là
người anh hùng, người cách mạng vĩ đại trong lĩnh vực âm nhạc, thì phải gọi
Schubert là nhà trữ tình vĩ đại. Mọi vấn đề của cuộc sống, quan hệ giữa con
người và con người và với thiết thực bao quanh, Schubert đều nhìn nhận và thể
hiện bằng những cảm xúc trữ tình.



 Schubert sinh ngày 31 tháng 1 năm 1797 trong một gia đình bố là nhà giáo có nế
nếp. Nhà nghèo, một căn nhà nhỏ bé ở ngoại ô thành Viên. Schubert cất tiếng khóc
chào đời và vĩnh biệt cuộc đời cũng ở dưới mái nhà này.



 Trong căn nhà nhỏ bé này luôn có tiếng đàn tiếng hát vì bố và hai anh lớn của
Schubert đều là giáohọc, mà thời đó dạy học văn hóa phải kiêm luôn dạy nhạc cho
học sinh, cho nên làm thầy là phải biết nhạc lý cơ bản, biết hát và chơi được
một thứ nhạc cụ nào đó. Cho nên Schubert ngay từ nhỏ đã yêu nhạc và có năng
khiếu khác thơờng về âm nhạc. Cũng là một thần đồng âm nhạc như Mozart, chỉ khác
là bố Schubert không có trình độ nhạc giỏi như ông Lêôpôld - bố của Mozart, để
đào tạo được Schubert thành một "Mozart" thứ hai không có tiền thuê thầy dạy,
cho nên Schubert được học nhạc muộn hơn so với Mozart.  



Tuy vậy Schubert cũng được bố dạy chơi đàn violon, anh cả dạy chơi đàn clavơxanh
và cha cố Hôlxerơ dạy lý thuyết âm nhạc và chơi đàn oogan. ông Hôlxerơ nhớ lại:
"Khi tôi muốn giới thiệu cho Franx (Schubert) một cái gì mới thì hóa ra cậu ta
đã biết rồi... Do đó không phải tôi dạy, mà là nói chuyện với anh ta để rồi ngạc
nhiên vì sự hiểu biết của cậu ấy..."



 Năng khiếu trời phú đả giúp Schubert được nhận vào học trường dạy nhạc nội tú
của nhà thờ, gọi là "Cônvích", trường dạy giỏi nhất ở Viên, nơi vốn chỉ nhận con
em các gia đình quí tộc. Schubert đến trường xin học, dáng dấp rụt rè vì thất
tòa nhà của trường quá đồ sộ, lại bị học sinh nhà trường chê giễu vì quần áo quá
nghèo nàn. Nhưng nhờ có giọng hát tốt và khả năng đọc nhạc nhanh nên Schubert đã
được nhận học. Đó là vào năm 1808 khi Schubert đã 11 tuổi.



 Học ở trường, Schubert đau đầu nhất với môn toán, ngoài ra ăn không đủ no, vì
chế độ ăn nội trú quá tồi tàn, thường gia đình phải tiếp tế thêm mà gia đình
Schubert không có điều kiện vì quá đông con. Nhưng âm nhạc thì rất được nhà
trường chú trọng, có dàn nhạc học sinh, những tứ đấu và tứ ca của học sinh, hợp
xướng. Tối nào dàn nhạc cũng phải hòa nhạc nhiều loại tác phẩm. Schubert chơi
violon trong dàn nhạc do đó có điều kiện làm quen với nhiều tác phẩm, tác giả.
Chính nhờ đó mà ông học được kỹ thuật sáng tác, và đã sáng tác rất nhiều. Tính
từ sáng tác đầu tay của ông năm 1810, cho đến năm 1813 là khi ông rời ghế nhà
trường, Schubert đã viết hàng loạt ca khúc, ba lát, tứ đấu đàn dây, hợp xướng và
bản giao hưởng số 1.



 Ra khỏi trường, ông buộc phải đi dạy học, làm phụ giảng tại trường nơi bố ông
dạy, vì nếu không sẽ bị gọi và phục vụ trong quân đội 14 năm liền (nghĩa vụ quân
sự ở nước Aáo thời đó là 14 năm). Việc dạy học chiếm nhiều thời gian, lương
thấp, Schubert phải nhận dạy tư thêm để kiếm sống. Nhưng chính thời gian này sức
sáng tác của ông thật dồi dào và ở một số lĩnh vực đã đạt đến độ chín, có bản
lĩnh cao.



 Có lần trong một ngày ông viết 8 ca khúc. Chỉ trong một năm 1815, vừa đi dạy
học, kể cả dạy tư, Schubert đã sáng tác 144 ca khúc, 4 ôpêra, 2 bản giao hưởng
một tứ đấu đàn dây, hai bản xônát cho piano và hàng loạt tác phẩm khác nữa. Sáng
tác của ông thật phong phú về thể loại, đến năm 1817, ông đã có hơn 300 ca khúc,
trong đó có những bài nổi tiếng cho đến tận ngày nay, như: "Con cá phôren",
"Thần rừng", "Người lữ hành", "Cô gái quay xa".v.v... 5 bản giao hưởng (ông viết
tất cả 9 bản). 7 trong số 15 xônát và nhiều tác phẩm lớn khác.



 Schubert vốn chán nghề dạy học do bị mất quá nhiều thời gian sáng tác âm nhạc,
nên sau khi dạy đủ số năm qui định, ông thôi việc để tập trung vào sáng tác.
Nhưng vì không còn lương để sống, lại bị bốt cắt đứt quan hệ do giận ông không
theo nghề truyền thống của gia đình, nên Schubert lâm vào cảnh túng quẫn. Dạy
đàn tư thì tiền thu được nhiều khi không đủ tiền thuê đàn (không có tiền mua
đàn, phải thuê). Trong khi đó, vì lòng tự trọng, ông khước từ không đến diễn tại
các phòng khách của những gia đình quí tộc giàu có, một công việc có thể giúp
ông vượt qua cảnh đói nghèo, nghèo đến mức không đủ tiền mua đủ giấy nhạc để ghi
lại các tác phẩm của mình.



 Bản "Xêrênát" nổi tiếng của ông chính là đã ra đời trên một thực đơn của nhà
hàng, Schubert viết ở mọi nơi có thể, dường như trong đầu ông chen chúc nhiều
giai điệu, chỉ chờ có dịp là tuôn trào ra như thác lũ (trong cuộc đời ngắn ngủi
31 năm Schubert đã viết hàng ngàn tác phẩm trong đó có hơn 600 ca khúc).



 Schubert sống thêm được sau cái chết của Beethoven - người nhạc sĩ mà ông yêu
quí và khâm phục nhất - hơn một năm. Ông ra đi vào ngày 19 tháng 11 năm 1828, vì
thiếu thốn, bệnh tật, kiệt sức. Bi kịch trong đời người nghệ sĩ này là cho đến
khi chết hầu như không được dự một cuộc trình diễn nào những tác trình diễn vào
những tác phẩm lớn của mònh. Bản "Giao hưởng bỏ dở" nổi tiếng của ông viết năm
1822. Khi ông còn sống, tổng phổ bị thất lạc. Người ta chỉ tìm lại được sau khi
ông chết mấy chục năm.  



Cuộc đời của ông thể hiện tính bi kịch nội tâm của người sẽ nhận biết được sự
xấu xa của hiện thực thời gian ấy nhưng không nhìn ra những con đường và phương
thức khắc phục. Ông thu mình trong những suy tư của mình, chao đảo giữa tuyệt
vọng và hy vọng, giữa bóng tối và ánh sáng. "Giờ đây không còn thời kỳ hạnh phúc
mà mỗi thứ tưởng chừng như được bao bọc trong ánh hào quang của tuổi thanh xuân,
thay vào đó là điều bất hạnh khi nhìn thấy hiện thực đau buồn mà nhờ trời, tôi
cố tô điểm bằng trí tưởng tượng của mình cho nó đẹp lên...". Đó là những dòng
nhật ký ảo não của chính Schubert viết trong mấy năm cuối đời.



 Đời sống của Schubert giản dị và ngắn ngủi, hầu như chỉ ở thành phố Viên, không
phải trong những tòa lâu đài lộng lẫy nơi Mozart được đón tiếp khi đang là một
thần đồng, nơi Hayđơn được hoan nghênh nồng nhiệt và Beethoven còn tìm được
những người hâm mộ. Schubert chỉ sống tại vùng ngoại ô Viên, nơi những căn nhà
nhỏ bé và lụp xụp, dân chúng nghèo. Ông không biết được sự thành công rực rỡ
nào, không đóng một vai trò gì đáng kể trong đời sống âm nhạc thời ấy. Nhưng hậu
thế biết đến ông và đã đánh giá đúng cống hiến to lớn của ông cho kho tàng âm
nhạc của nhân loại. Bia mộ của ông ghi dòng chữ: "Ở đây, cái chết đã chôn vùi
một kho báu và cả những niềm hy vọng còn quí báu hơn
".



 



(sưu tầm)

)


#7 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:12 AM




Johann Strauss và những vũ khúc mùa xuân



 






Khi Johann Strauss
(bố) qua đời năm 1849 ở tuổi 45, cả thành phố Vienna đã để tang ông, thương xót
cho một nhân vật vĩ đại phải ra đi quá sớm. Năm mươi năm sau, với Johann Strauss
con, không có nhiều người ủng hộ thể loại nhạc Valse của ông, họ không coi trọng
những bản nhạc của ông như các thể loại nhạc giao hưởng khác. Những người hâm mộ
gia đình Strauss đã phải đối mặt với những cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn để
thuyết phục mọi người rằng âm nhạc của họ lành mạnh hơn ngàn lần những trò giải
trí vô bổ của giới quý tộc trong xã hội thượng lưu. Tuy nhiên đó cũng là một sai
sót khi bảo vệ một tài năng, những đoản khúc ấn tượng trong khi vẫn tồn tại một
lượng lớn giới hạn về kĩ thuật trong nhạc Valse. Những sáng tác đầu tiên của
Strauss vẫn nằm trong phạm vi của những quy ước, ví dụ trong Radetzky March rất
tráng lệ, rực rỡ, Strauss đã tạo ra biểu tượng của lực lượng quân đội Habsburg,
còn Blue Danube của Strauss con thì được ví như hình ảnh thu nhỏ của chủ nghĩa
khoái lạc lộng lẫy và rực rỡ của một thành phố Vienna tráng lệ.






Nhạc khiêu vũ



Những giai điệu tưng bừng và lộng lẫy trong nhạc khiêu vũ của Strauss là một
phần không thể thiếu trong những buổi lễ hội mừng năm mới. Trong những buổi hòa
nhạc đầu xuân, dàn nhạc chơi trên một sân khấu được bao phủ bởi rực rỡ các loài
hoa, và nhạc của Strauss mang đến cho người thưởng thức niềm vui, niềm hạnh phúc
và sự hứng khởi trong giây phút khởi đầu một năm mới. Trong những gian phòng
khiêu vũ của giới quý tộc, các đôi trai gái say sưa hòa mình cùng giai điệu
Valse của Strauss. Người ta không chỉ khiêu vũ vào buổi tối, trong gian phòng
rực rỡ ánh đèn, mà các buổi dạ tiệc còn được tổ chức ngoài vườn, âm nhạc của
Strauss “khiêu vũ” cùng tiếng chim...










Johann
Strauss, Jr. with Johannes Brahms.



 





Radetzky March của Strauss bố đã được biểu diễn hàng năm vào buổi hòa nhạc mừng
năm mới ở nhà hát thành phố Vienna, đây là một bước tiến vượt bậc, mang đến lễ
hội Kỉ niệm những ông vua nhạc khiêu vũ của thành phố một không khí mới vui nhộn
hơn, tưng bừng và hạnh phúc hơn. Sau này, Johann Strauss con đã có những bản
Valse chiếm vị trí hàng đầu trong số các tác phẩm phục vụ triều đình. Có thể kể
đến Thunder and Lightning, Vienna Blood, Acceleration, Talé from the Vienna
Woods, và đặc biệt là Blue Danube – một trong những bản nhạc hay nhất của thế kỉ
19. (Bản nhạc này tính cho đến nay đã được thu thanh hơn 70 lần, nằm trong danh
mục cùng với những bản giao hưởng của Beethoven). Một lần, Strauss đã tâm sự,
rằng ông kế tục thể loại Valse của bố mình, và thực vậy cấu trúc trong các bản
Valse của Strauss con có những nét rất giống với những tác phẩm trước đây của
Strauss bố: phần dạo đầu chầm chậm, 5 lần tái diễn của điệu Valse và phần kết
nhanh gọn. Ngoài ra, ông đã phát triển, mở rộng phần giữa, giới thiệu những ý
nghĩa rộng lớn hơn của sự thống nhất từ đầu đến cuối tác phẩm, làm nổi bật sự
biến hoá muôn màu của kết cấu, điều làm những điệu Valse của ông trở nên tráng
lệ hơn. Tuy nhiên, đây là thể loại âm nhạc dành cho sự di chuyển, dành cho khiêu
vũ, dành cho sự bay bổng và sức sống của mùa xuân tươi trẻ. Nếu bạn không có một
phòng khiêu vũ, chỉ có thể lắng nghe những điệu Valse qua CDs thì hãy thử tưởng
tượng ra mình trong một khu vườn mùa xuân tràn ngập tiếng chim và hương hoa thơm
ngát cùng với những giai điệu tuyệt vời sảng khoái của Strauss. Hãy luôn mang
theo mình một vài đĩa nhạc Valse, chúng sẽ làm bạn vui trong mọi hoàn cảnh, ở
bất cứ nơi đâu trong những ngày đầu năm mới.



(
Sưu tầm)



Johann Strauss
- ông Vua của điệu valse thành Vienne



(Johann con)






 



Johann Strauss, ông Vua của điệu valse thành Vienne, là một thiên tài âm nhạc,
một nhà trình diễn cuốn hút và là một người bị loạn thần kinh.





Một trăm năm sau khi qua đời (3/6/1899). thành phố Vienne quê hương của ông đang
trọng thể tôn vinh nhạc sĩ bậc thầy mà điệu Valse Danube Xanh của ông đã trở
thành bản quốc thiều không chính thức của nước áo, với một loạt triển lãm, hòa
nhạc và trình diễn những vở Opera ngắn, những cuốn sách tiểu sử vừa được viết ra
đã vạch ra những nét song hành giữa sự nghiệp chói sáng của Johann với những
ngôi sao nhạc Pop thế kỷ 20 và một tác giả đã so sánh ông với Michael Jackson.
Cả Eduard Strauss, chắt nội của người em ruột Johann một quan tòa năm nay 44
tuổi.

cũng nói trong một cuộc phỏng vấn: đấy là một câu chuyện gia đình cực kỳ thú vị.
Strauss với tình dục và với Rock''n Roll, chúng tôi có đủ thứ.



 



Cỗ máy Strauss



Hai đời của gia đình Strauss đã ngự trị trên các sàn nhảy của thành Vienne trong
thế kỷ 19. Johann trưởng, cha của Strauss, bây giờ được người ta nhắc nhở với tư
cách là tác giả của nhạc phẩm Radetzky March. Nhưng Johann Strauss thứ (con),
sinh năm 1825 mới chính là người đã trở nên bất tử chiếc vĩ cầm trong tay, vây
quanh là những nàng tiên có những bộ ngực để trần, đây là bức tượng mạ vàng trên
công viên Trung tâm, trái tim của thành Vienne.



Từ năm 1845 đến 1895. Johann Strauss và các em ông. Josef và Eduard, đã sáng tác
ra hơn 500 khúc nhạc Valse, Polka và các vở Opera ngắn được công chúng nồng
nhiệt đón nhận bộ ba này là những người tiền phong trong ngành công nghiệp âm
nhạc. Johann, nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng và tay đàn violon, là một nhạc sĩ
cổ điển" ăn nên làm ra vào bậc nhất. Một trăm năm trước đây, hàng ngàn người đã
đổ xô đến các vũ trường để tâm hồn bị cuốn theo điệu Valse, từ nước Nga đến Hoa
Kỳ. Năm 1872, Johann được quảng cáo trên tấm panô là Electric Strauss (Strauss
điện) - điều khiển cuộc hòa tấu nhạc phẩm Danube Xanh trước 100.000 khán giả ở
Boston, buổi ra mắt đầu tiên tại Mỹ. ông đã theo đuổi một chương trình biểu diễn
quá căng thẳng cho đến một lúc gục ngã vì kiệt sức ở thành Vienne. Cũng như
những huyền thoại nhạc Rock của thế kỷ 20. Địa vị ngôi sao đến với một giá đắt -
con kỳ đà của điệu Valse ngày càng rơi vào căn bệnh trầm kha là suy thoái và âu
lo. Người ta kể là ông đi tụt lùi khi xuống cầu thang và trong những chuyến đi
tàu hỏa. ông thường ngã lăn ra sàn tàu mỗi khi con tàu chui qua một con đường
hầm. Johann Strauss nằm lưng chừng giữa sự lập dị và bệnh điên khùng.



 







Đằng sau mỗi vĩ nhân Johann Strauss biết rõ cách để viết ra một giai điệu lôi
cuốn nhưng chính là bà mẹ ông - Anna là người có đầu óc kinh doanh. Chính bà đã
tạo dựng nên đế chế âm nhạc Strauss. Bị người chồng phụ bạc, Anna Strauss đã
khuyến khích đứa con trai đầu của mình sáng tác nhạc và dùng tài năng của con
mình như một vũ khí chống lại người chồng đã ly thân. Sau lần ra mắt hết sức
thành công lại một khư ngoại o thành Vienne vào tuổi 18, Johann con đã ganh đua
thắng lợi với người cha nổi tiếng của mình trên vũ đài âm nhạc của Vienne, ông
khâm phục cha mình về tài năng nghệ thuật nhưng, đứng vững về phía trận tuyến
của người mẹ.





Người vợ đầu tiên của Johann, Henriette Treffz, một ca sĩ Opera "Jetty", lớn hơn
Johann 7 tuổi tiếp tục điều khiển công việc kinh doanh trình diễn phát đạt Sau
khi hai người lấy nhau vào năm 1862. Strauss sáng tác bản Danube Xanh trong căn
hộ ở quận 11 thành Vienne. Những căn phòng vừa tân trang ở đây, vào dịp này được
mở cửa cho công chúng tham quan. Jetty còn khuyến khích chồng thử sức trong việc
sáng tác những vở Opera ngắn (Op-eretta) . Bà từng bảo ông tại sao anh lại tự
giết mình nhỉ? Cứ nhìn xem Offenbach đang làm gì ở Paris, anh nên bỏ công vào
việc dựng các vở Operetta và có thể bán kèm một số bản Valse và Polka thêm vào
đấy".





Những giai điệu sâu lắng và tinh tế



Nghe ra như thể đấy là lời khuyên có tính chất thương mại Johann đã viết ra vở
Operena được trình diễn thường xuyên nhất trên thế giới vào năm 1874: vở Die
Fledermaus. Tiếp đó là các vở Gypsy Baron và Wiener Blut, trở thành những vở rất
đắt khách và thu được nhiều tiền từ việc ghi âm nhạc nền. Khi Jetty qua đời,
Strauss lấy một ca sĩ 28 tuổi. Lily Dietrich, nhưng chẳng bao lâu cô gái bỏ ông
chạy theo một đạo diễn sân khấu. Strauss ly khai Công giáo và trở thành một tín
đồ đạo Tin Lành để có thể cưới bà vợ thứ ba, một quả phụ Do Thái tên là Adele.
Bà sống lâu hơn Johann và không một cuộc hôn nhân nào của Johann có con cái cả.
Âm nhạc của Johann Strauss không hẳn là thứ nhạc Pop nông cạn. Đằng sau những gì
phù phiếm và sôi nổi, ông đã nắm bắt chết sầu muộn, thường có tính than vãn ,
cái tâm thức của thành Vienne trong các giai điệu của mình. Eduard Strauss,
người đang chỉ đạo một dự án nghiên cứu về âm nhạc của dòng họ Strauss, nhận xét
rằng "Cụ ấy là thần tượng Pop của thế kỷ trước."



Theo TTVN


 




#8 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:15 AM



Peter Ilyich
Tchaikovsky






 



 





1.Thân thế và sự
nghiệp:



Tchaikovsky sinh ngày
25/5/1840 ở Votkinsk thuộc Uran trong một gia đình kỹ sư mỏ. Sống trong gia đình
quý tộc bậc trung, cậu bé được giáo dục toàn diện, rất yêu thích và có năng
khiếu về âm nhạc từ nhỏ. Nhưng bố mẹ không muốn cho con theo con đường nghệ
thuật nên gửi Tchaikovsky đến Petersburg để học ở trường Trung cấp luật ( từ năm
1850-1859). Trong thời gian này cậu bé say mê học âm nhạc. Theo lời khuyên của
A.Rubinsten, Tchaikovsky bỏ nghề luật và thi vào nhạc viện Petersburg (1862).
Sau ba năm học tập, Tchaikovsky tốt nghiệp với huy chương bạc và trở về hoạt
động ở Moscow rồi trở thành giáo sư của nhạc viện thành phố (1865). Tchaikovsky
hoạt động âm nhạc rất hăng say trong lĩnh vực sáng tác, lý luận, giáo
dục...Trong khoảng 12 năm (từ 1865-1877) ông đã sáng tác nhiều tác phẩm.



 






 



Năm 1877-1885, tình hình xã
hội có nhiều biến đổi và với cuộc hôn nhân không thành đã làm cho Tchaikovsky
rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần trong một thời gian.



 




 



Năm 1878 hoàn thành bản giao
hưởng số 4 và nhạc kịch "Eugene Onegin ". Ðược một bà triệu phú tên là Fông Méc
đỡ đầu về kinh tế, Tchaikovsky rất yên tâm sáng tác. Giữa những năm 80,
Tchaikovsky tham gia hoạt động với tư cách là nhạc trưởng, biễu diễn khắp nơi
trong và ngoài nước. Năm 1893 ông được tặng học vị tiến sĩ của trường đại học
tổng hợp Cambrigde ở Anh.



 



Tchaikovsky mất ngày
25/10/1893 ở Petersburg sau một tuần lễ chỉ huy bản giao hưởng cuối cùng của
mình.



 






 



2. Ðặc điểm sáng tác và tác
phẩm:



- Tchaikovsky không những là
nhạc sĩ Nga vĩ đại mà còn là nhạc sĩ lớn thế giới. Hoạt động âm nhạc chính là ở
Moscow. Sáng tác nhiều thể loại thành công như giao hưởng, nhạc kịch, vũ kịch,
nhạc thính phòng, hòa tấu, romance.



 



- Tác phẩm phản ảnh tâm tư con
người thời đại, tình cảm, khát vọng dưới chế độ Nga hoàng. Miêu tả cảnh thiên
nhiên nước Nga rất độc đáo như giao hưởng số 1 "Giấc mơ mùa đông", trong tác
phẩm còn đề cập đến những câu truyện thần thoại, những trang sử quang vinh của
nước Nga nhưng đặc điểm nổi bật là ông phản ánh thông qua tấn bi kịch như giao
hưởng số 5, số 6 "Con đầm bích" là những tác phẩm bi kịch đạt đến đỉnh cao.






Sleeping Beauty



 



- Sở dĩ ông nổi tiếng vì đã
biết kết hợp nhuần nhuyễn âm nhạc Nga với âm nhạc châu Âu, âm nhạc thành thị,
nông thôn. Âm nhạc trong tác phẩm của ông là âm nhạc trí thức tiểu tư sản.



 



Tác phẩm:



- Tchaikovsky sáng tác khoảng
30 tác phẩm cho dàn nhạc giao hưởng gồm có: 7 bản giao hưởng (6 giao hưởng và
giao hưởng có tiêu đề "Mangfrét"; nhiều concertors cho piano, violon, nhiều khúc
mở màn, giao hưởng thơ và tổ khúc giao hưởng. Tính chất giao hưởng của
Tchaikovsky là trữ tình đầy tính kịch. Ðây là một dòng giao hưởng mới trong lịch
sử giao hưởng Nga. Bên cạnh đó cũng có giao hưởng mang tính chất cảnh trí sinh
hoạt như Giao hưởng số 1 "Những ước mơ và con đường mùa đông" (1866), "Người thợ
rèn Vacula", vũ kịch "Hồ Thiên Nga", ba khúc mở màn: Romeo và Juliét (1869);
"Bão tố" (1873); "Franxétca đa Rêminhi" (1876)



 



- Giai đoạn 1877 do căng thẳng
trong cuộc sống riêng tư, ông bỏ dạy, bỏ sáng tác và đi ngao du ở Ý, Anh, Pháp
và những tác phẩm trong thời kỳ này: Nhạc kịch Eugene Onegin, Cô gái Orliăng
(1870) và Madéppa(1883), concerto số 2 cho piano, concerto cho violon...



 



- Thời kỳ trở về Moscow, ông
viết GH có tiêu đề "Mangfrét" và bản GH số 5 (1888); nhạc kịch
Con bài bích, Người đẹp ngủ trong rừng
(1889), Xay hạt dẻ, Iolanta
(1891)...


 






Tháng 8 năm 1893, Tchaikovsky
hoàn thành bản giao hưởng cuối cùng của mình được gọi tên là Pathetique. "Tôi
coi đây là một sáng tác hay nhất, đặc biệt là chân thành nhất trong những tác
phẩm của tôi. Tôi yêu thích bản giao hưởng này như chưa từng yêu thích đến thế
một sáng tác nào khác của tôi.." Nhạc sĩ đã nói thế về bản giao hưởng
Patheticque.



Âm nhạc của bản giao hưởng
Pathetique cũng như những bản giao hưởng khcá của Tchaikovsky diễn tả cuộc đấu
tranh của con người cho những lý tưởng tươi sáng. Nhưng thực tế phũ phàng đã phá
tan khát vọng tiến đến hạnh phúc cảu con người. Con người đấu tranh nhưng bị
những thế lực áp bức và tàn bạo ấp đảo. Bị mát sức trong cuộc đấu tranh, con
người chết dần chết mòn.



Bản giao hưởng được bắt đầu
bằng khúc mở đầu ngắn, chậm(Adagio). Âm điệu đau buồn(hình tượng điển hình của
chủ đề chính phần thứ nhất) vabg lên ở phím thấp của fagot. Con người - nhân vật
của bản giao hưởng, tw duy về cuộc sống. Cuộc sống k0 dễ dàng , cần phải có rất
nhiều nghị lực để đấu tranh với những mặt xấu của nó, và k0 phải ngẫu nhiên mà
nghe thấy trong âm nhạc những tiếng thở dài nặng nề. Khúc mở đầu được kết thúc
bằng hợp âm bất định tắt dần. Yên lặng trước cơn bão - đó là ý nghĩa của khúc mở
đầu.





Bắt đầu phần thứ nhất - Allegro nontroppo. Chủ đề thứ nhất của nó - chủ để tích
cực, đấu tranh. Giữ trong những âm điệu của mình sự gần gũi với chủ đề của khúc
mở đầu, nó phát ttriển và biến tấu chủ đề đó; những nét nhạc mới ghép lại với
chủ đề chính sự kích động chung ngày càng tăng. Những âm nhạc căng thẳng đầy
tương phản tắ dần. Âm điệu êm ái thấm sâu vào lòng người đến thay chỗ.



Nó đưa ta vào thế giới hành
khúc và những ước vọng trong sáng, và k0 phải tình cờ mà âm điệu đó giống như âm
điệu mà Tachiân hát khi mơ ước về hạnh phúc với người yêu - "Anh đã hiện lên
trong giấc mơ của em, chỉ hình bóng anh, em đã yêu thương"(màn 2 vở kịch
Epghênhin Ônhêghin, lớp kịch bức thư)



Nhưng những tiếng vang bão táp
của cuọc sống đã vọng vào đây, vào thế giới trong sáng này - trong âm nhạc xuất
hiện những âm điệu - thở dài, âm điều than vãn. Sự quay lại những âm điệu trữ
tình tuyệt đẹp bắt ta quên đi tất cả những nỗi lo lắng, nó vang lên ngày càng
trong sáng hơn và cao hơn. Lần cuối cùng, hình như từ xa, nó xuất hiện ở kèn
clarinet, tất cả tắt dần như quy phục quyền lực mê hồn của âm điệu đó.



Tiếng vang của những hợp âm
thô thiển đưa nhân vật của bản giao hưởng về thế giới của cuộc đấu tranh tàn
khốc.



Tràn đầy sự kinh hoàng, chủ đề
chính được chuyển từ nhạc cụ này sang nhạc cụ khác, kúc thì nó tấn công, lúc thì
hình như nó lẩn tránh khỏi sự thay đổi. Giữa cuộc đấu tranh hỗn loạn nổi lên chủ
đề khắc nghiệt ghê rợn của kèn trombone và trompet vào lúc sôi nổi nhất của cuộc
đấu tranh, âm điệu đang dậng lên mãnh liệt bỗng bị cắt ngang, hình như người
chiến sĩ đã kiệt sức. Trong những âm điệu mãnh liệt, tàn khốc của kèn đồng nghe
rõ bài hát đưa ma Yên nghỉ với các đấng thiêng liêng. Hình như giờ phút tận số
đã đến với các nhân vật của bản giao huởng... Những cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục.
Từng bước, từng bước chủ đề tích cực lại đấu tranh để chiến thắng. Sức mạnh tinh
thần ẩn náu trong con người là vô tận và nó lại đấu tranh với các trở lực. Trong
đối thoại đầy xúc động về mặt biểu hiện của dàn đây và kèn đồng. Âm nhạc đạt đến
đỉnh cao của kịch tính.



Và 1 lần nữa nhạc sĩ lại đưa
ta về thế giới đã quen thuộc của mơ uớc trong sáng. Sau khi bão táp vừa ngừng,
âm điệu êm ái trữ tình hình như lại càng đẹp hơn. Phần thứ nhất trong sáng, tràn
đầy nỗi buồn man mác đã kết thúc âm nhạc.



Phần thứ 2 - điệu valse được
viết theo khuôn 5 dài bất thường(allegro congrazia). Âm điệu mê ly của nó vang
lên một cách nhẹ nhàng thoải mái, tràn đấy sức sống. Âm nhạc của phần này truyền
đạt tâm trạng của tuối trẻ vô tư. Chỉ mãi đến gần giữa mới nghe rõ tiếng vang
của nỗi kinh hoàng và thất vọng do con người phải chịu đựng trong cuộc đấu tranh
ác liệt, mà cảnh rung chuyển của nó nhác sĩ đã sáng tạo trong phần thứ nhất.



Âm nhạc của phần thứ 3 Allegro
moltovivace) lại đưa ta về với hình ảnh sống tích cực. Trừ trong những nét nhạc
lướt nhanh với tính chất của một đoạn scherzo, ta thấy xuất hiện chủ để kêu gọi
đấu tranh qua điệu hành khúc.



Lúc đầu âm điệu đó hầu như
không nghe rõ, những dần đần cả dàn nhạc vang lên và đạt đến mức rất mạnh. Trong
nhịp điệu mãnh liệt của hành khúc anh hùng, ta cảm thấy một nghị lực vô tận.



Thay vào phần kết tươi sáng
thường có đối với hình thức giao hưởng cổ điển, Tchaikovsky kết thúc bản giao
hưởng số 6 bằng âm nhạc đau buồn, chậm rãi - Adagio lamentoso



Chính nhạc sĩ nói rằng âm nhạc
đó thấm đượm không khí và tâm trạng của một lễ cầu hồn. Cuộc sống kết thức, cuộc
đấu tranh quá gay go, nó tiêu hao quá nhiều sức lực. Những hình tượng âm nhạc
chính của phần này liên quan đến những ý nghĩa về cái chết. Cuộc sống dù khó
khăn đến đâu những khó lòng dứt bỏ nó, bởi vì trong cuộc sống còn có rất nhiều
điều tốt đẹp. Những tiếng rên rỉ của cuộc chia li, vĩnh biệt được nhạc sĩ diễn
tả với một sức sống nghệ thuật to lớn. Những nhạc tố thấp của âm điệu hạ xuống
dần, điệu nhạc nhà thờ như an ủi ta yên lòng...



 



(ST)




#9 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:21 AM



Hồ Thiên Nga



 






 



(capture từ
VCD – hình hơi mờ)





Trong những năm 1875-1876 Tchaikovsky đã có dịp thử sức mình trong một thể loại
âm nhạc mới đối với ông. Ban giám đốc các nhà hát Maxcơva đặt oong viết nhạc cho
vở Ballet Hồ thiên nga, chủ đề dựa theo truyển cổ tích dân gian về lòng chung
thủy.



 


Hoàng tử trẻ tuối Diphrit
đi săn trong rừng bị lạc. Trên bờ hồ hoang vắng chàng trông thấy đàn thiên nga
mà khi màn đêm buông xuống đã biến thành những cô gái. Đấy là công chúa Ôđetta
và các bạn gái của nàng bị tên phù thuỷ độc ác Rôbartơ mê hoặc. Ngay từ phút đầu
tiên Diphrit đã yêu Odetta và thề sẽ chung thuỷ với nàng. Làm thế nào để phá huỷ
bùa mê độc ác và trả lại cho em cùng các bạn của em hình dáng con người ? -
Chàng hỏi Odetta - Hãy chung thuỷ với em, và bùa mê sẽ biến mất - Odetta trả
lời.


 





 


Khi xuất hiện những tia
sáng mặt trời đầu tiên, các cô gái lại biến thành bầy thiên nga, còn Diphrit trở
về hoàng thành để xin phép mẹ cho cưới Odetta. Nhưng câu truyện về lời thề của
đôi trai gái bị tên phù thuỷ Robarto biến thành con cú nghe trộm và quyết định
ngăn cản Diphrit cứu thoát Odetta khỏi bùa mê. Trong hoàng thành là ngày hội.
Các cô gái đẹp nhất và giàu có nhất từ khắp nơi đến dự. Theo lệnh của mẹ,
Diphrit phải chọnvợ cho mình trong số những co gái đó. Giữ vững trong tim hình
ảnh cô gái - thiên nga tuyệt đẹp Odetta, Diphrit lạnh nhạt đi giữa đám mỹ nữ.
Nhưng bỗng ngoài cửa xúất hiện cô gái xinh đẹp Odinlia, con gái tên phù thuỷ.
Robartơ xảo quyệt đã biến mình hoàn toàn giống Odetta, Diphrit bị lừa, lại thề
chung thủ mãi mãi với Ođinlia và đưa nàng đến trình với mẹ. Ngay khoảnh khắc đó
ở ngoài cửa sổ vang lên tiếng kêu thảm thiết của Odetta thiên nga.. Robartơ đang
chiến thắng bị biến thành co cúm, còn Ođinlia xin đẹp cũng biến thành chim cú.
Với những tiếng kêu man rợ và độc ác chúng bay ra khỏi hoàng thành.


 


Diphrit kinh hoàng. Chàng
đã thấy sai lầm của mình, và biết là đã phạm lời thề chung thuỷ . Trên bờ hồ
cuộn sóng chàng gặp lại Odetta đang buồn bã. Bây giờ tất cả đối với nàng và các
bạn nàng đã kết thúc. Khi bình minh lên học sẽ vĩnh viễn biến thành đàn thiên
nga. Thất vọng Diphrit xé nát bộ lông thiên nga của Odetta. Sấm sét vang lên,
nước hồ đang tràn bờ. Diphrit và Odetta bị chìm trong làn sóng cuồn cuộn của
nước hồ.


 


Sau đó phần kết thúc ẩm đạm
của balê được thay đổi: chính nhờ việc nhảy xuống làn sóng mà Diphrit và Odetta
đã giải được bùa mê : Odetta và các bạn gái của nàng trở lại thành các co gái và
vở ballet kết thúc trong ngày hội huy hoành.


 





 


Vở ballet được trình diễn ở
nhà hát Bôn-sôi ngày 20/2/1877. Với Hồ thiên nga, 1 thời kỳ mới trong sự phatr
triển balê của nước Nga bắt đầu. Trước đó balê được coi như là 1 cảnh vui mà ở
đó có thể thưởng thức tài nghệ của những người múa. Âm nhạc chỉ đóng vai trò thứ
yếu. ĐÔi khi vở balê được ghép bằng những đoạn nhạc múa của nhiều tác giả. Chưa
ai nghĩ đến việc vở balê có thể hoàn chỉnh chặt chẽ như 1 vở nhạc kịch hay vở
kịch.


 


Tchaikovsky đã nghĩ 1 cách
khác khi sáng tác balê. Ông cố gắng diễn tả bằng âm nhạc nội dung của câu truyện
cổ tích về những cô gái thiên nga. Những tiết mục múa riêng rẽ và những màn kịch
câm được liên hệ khẳng khít với nhau, những hình ảnh âm nhạc được phát triển như
trong nhạc giao hưởng. Chủ đề âm nhạc chính của balê thể hiện qua hình ảnh của
Odetta : Fá----Sì-Đô-Rê-Mi-Fá--Rề-Fá--Rề-Fá--Sì-Rê-Sì-Sòn-Rế-Sì



 


(ST từ
bài viết của dasaev trên vietnamnet)






#10 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:24 AM



Johann Sebastian
Bach








(Eisenach, March
21, 1685 - Leipzig, July 28, 1750)





 



German composer of the late Baroque





1.Tiểu sử:



Bach sinh ngày 21/3/1685 tại Eisenach- Ðức
trong một gia đình nghèo có truyền thống âm nhạc. 9 tuổi mồ côi cha mẹ ở với
người anh. Nhờ kiên trì học tập bằng cách chép lại những bản nhạc trong tủ sách
của người anh ruột này và cộng với những hiểu biết thực tế trong công việc phục
vụ âm nhạc hàng ngày ở nhà thờ và năng khiếu âm nhạc của bản thân, nên sau không
bao lâu Bach trở thành nhạc sĩ có khả năng về nhiều mặt: hát hay, biểu diễn
thành thạo violon, clavexanh và organ.



15 tuổi không chịu được cảnh sống mất tự do đã
bỏ nhà đi lang thang. Nhờ có giọng hát hay và tài biểu diễn Organ Violon nên ông
đã sống qua ngày.



23 tuổi Bach đến Wisman là nơi có nền âm nhạc
phát triển. ở đây ông tiếp xúc với âm nhạc của Ý, Pháp và ông đã đúc kết nhiều
kinh nghiệm, trau dồi kỹ thuật hoàn chỉnh phong cách để bước vào giai đoạn
trưởng thành.



1717 Bach đến Cologne ở đây ông đã sáng tác
những nhạc phẩm có giá trị cho đàn Clavaxanh.





 



1727 Bach trở về Leipzig và ông đã sáng tác
hàng trăm tác phẩm. Mặc dù với tài năng và thành quả lao động quên mình Bach
phải sống một cuộc sống nghèo khổ. Nhạc sĩ từ trần ngày 28/7/1750 tại Leipzig để
lại người vợ sống trong hành khất và mười năm sau bà cũng qua đời. Con gái út
của Bach lại phải sống tiếp cuộc đời bần hàn của mẹ và mãi cuối đời mới được
Beethoven giúp đỡ thoát khỏi cảnh tủi nhục.Thi hài của Bach chôn cất tại một
nghĩa trang không chính thức và đến nay đã hoàn toàn bị thất lạc.






 



2.Ðặc điểm sáng tác:



Sống trong thời đại đầy rẫy những khó khăn
trong xã hội, dưới sự thống trị của nền dân chủ phong kiến, đặc biệt là Tôn giáo
đóng vai trò chính trị trong đời sống quần chúng, Âm nhạc phục vụ đắt lực cho
nhà thờ nhưng chủ đề tư tưởng trong tác phẩm của ông hết sức phong phú. Ông biết
nhìn sâu sắc vào tâm hồn con người, thông cảm với nổi đau quần chúng do đó tác
phẩm của ông mang màu sắc trữ tình, những nỗi buồn man mác và những tình cảm say
sưa nồng cháy.



Ðặc điểm: là nhà phức điệu vĩ đại, Bach suy tư
ra lối phức điệu trong tác phẩm của mình. Ông biết tổng kết và phát triển những
thành quả vĩ đại cũng như âm nhạc đương thời, Bach đã hoàn thành một số âm nhạc
điển hình cho tác phẩm.






 



3.Tác phẩm:



-Viết Preluyt và fuga Am, Toccata và fuga Dm.



- Tác phẩm nhạc Clavexanh chủ yếu của Bach là
hai tập nhạc có tên gọi đầy đủ: "Những bài viết cho đàn Clavexanh theo hệ bình
quân nghe vẫn tốt" (Tạm gọi tắt là tập "Bình quân". Ðỉnh cao trong tác phẩm đàn
phím là 48 preluyt và phuga. Người ta gọi là 2 tập bình quân chia quãng 8 ra làm
12 phần bằng nhau.



- Tổ khúc: có 12 bản, 6 bản tổ khúc Anh và 6
bản tổ khúc Pháp, 1 Concertos.



- Viết cho khí nhạc và thanh nhạc: Về thanh
nhạc chủ yếu là thanh xướng kịch và hợp xướng, ông thường lấy chủ đề từ tôn giáo
đặc biệt bảng Mexa giọng Bm.




( Bài viết của dasaev trên Vietnamnet )



#11 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:26 AM




Chopin, linh hồn của piano





 



 




 



 



Từ polonaise,mazurka
cho tới concerto



 





 



Bệnh dịch tả lại
hoành hành ở Paris, những người học trò cuối cùng của Chopin lần luợt rời Paris.
Chopin đứng trên bờ vực thẳm khốn cùng và thiếu thốn. Chopin tự tay thiêu hủy
rất nhiều bảnthảo cua rmình. Ông còn dịnh đốt cả bản sonate bất hủ viết cho đàn
violoncello. Năm 1849, một người bạn của ông, bà bá tước Potocka đến bên giường
nhạc sĩ thiên tài đang hấp hối và hát cho ông nghe những bài ca của Mozart.
Trong di chúc của mình, nhạc sĩ thiên tài người Ba Lan cầu mong được chôn cất ở
nghĩa địa Chaleser, còn trái tim thì đưa về tổ quốc Ba Lan xa xôi của mình. Lời
nguyện ước ấy của Frederich Chopin đã được toại nguyện.





 



 





 



Frederich Chopin sinh
ở Ba Lan, cha là người Pháp, mẹ là người Ba Lan. Con người Chopin chính là sự
hòa trộn giữa tính cách Slave và tâm hồn La tinh. Những giai điệu dân ca, những
vũ khúc thôn dã thấm vào dòng sữa mẹ nuôi dưỡng cậu bé, nhà soạn nhạc thiên tài
không chỉ của riêng đất nước Ba Lan. Đó là những tố chất làm nên một thiên tài
âm nhạc thuần khiết, đôn hậu, mãnh liệt và da diết.



 





 



 





 



 Khi còn nhỏ, cậu bé
Chopin đã tự kê ghế ngồi trước cây đàn piano. Khúc nhạc đầu tiên của cậu
là một khúc ứng tác. Lớn lên một chút, Chopin học nhạc dưới sự chỉ dẫn của giáo
Voisech Gipnew. Năm lên 7, sáng tác đầu tiên của Chopin là một bản
polonaise. Đó là một trong những giai điệu dân ca quen thuộc của ngưòi nông dân
Ba lan chân chất và sôi nổi, giai điệu ấy thấm vào trong máu Chopin từ bé, đến
năm lên 9 tuổi Chopin đã nôi tiếng là một nghệ sĩ tài ba trong các buổi biểu
diễn trước những người hâm mộ và có vẻ sùng bái. Năm ông 14 tuổi, giáo sư
Voisech thú nhận rằng ông “không còn gì dể dậy cho cậu bé thiên tài”. Giáo sư
nhận xét: ”đối vói một thiên tài lớn các quy tắc sinh ra là để bác bỏ”. Chopin
chính là con người như thế. Sau đó, Chopin được giới thiệu đến học nhạc sĩ sáng
tác nổi tiếng Guizep Enxe. Năm 15 tuổi, Chopin đã rong ruổi trên khắp đất nước
Ba Lan, cậu bé vừa biểu diễn, vừa quan sát, học hỏi và lắng nghe, thu lượm các
làn điệu dân ca.

Âm nhạc
các miền đất, vùng quê thấm dần vào cậu bé. Năm 1826, vừa tròn 16 tuổi, Chopin
vào học trường cao đẳng âm nhạc .Năm 18 tuổi Choipin đã sáng tác hai bản rondo
cho đàn piano. Trong chuyến đến thủ đô Viên biểu diễn lấn đàu tiên liến trong
hai buổi, cả kinh đô Âm nhạc Châu Âu nồng nhiệt đón tiếp và ngưỡng mộ tài năng
của nhạc sĩ trẻ thiên tài trên cây đàn piano với một sức hút kỳ diệu. Từ Viên,
Chopin tiếp tục hành trình lưu diễn ở Dresden (Đức)




 



Vừa tròn 20 tuổi,
chàng thanh niên lòng tràn ngập tình yêu quê hương, phải dứt áo từ giã tổ quốc
Ba Lan.

Đó là
năm 1830, Chopin mang theo bên mình nắm đất quê hương đựng ttrong một chiếc cốc
bằng bạc  .Trước khi ròi tổ quốc, Chopin chơi bản concerto giọng mi thứ như một 
lời vĩnh biệt người thân, bạn bè để sang sinh sống tại Pháp, quê hương của cha
mình.

Ông đến
Paris đúng vào thời kỳ rực rỡ nhất của chủ nghĩa lãng mạn. Tại đây, ông gặp
Liszt, nghệ sĩ chơi piano điêu luỵện người Hung và nhà thơ vĩ đại người Đức
Heine. Ngay lập tức, Chopin trở thành thần tượng trong các phòng nhạc của giới
quý tộc và quyền quý.

Đây
cũng là nơi những tâm hồn nhạy cảm, ngây ngất khi được nghe những bản polonaise 
bất hủ hoặc những điệu vũ mazurka của Chopin.




 



Thời đó, người ta gọi
Chopin là nhà thơ - nhạc sĩ điêu luyện trên cây đàn piano đầy uy quyền. Hơn thế,
ông còn là một người luôn tìm tòi khám phá những tính năng tiềm ẩn của nhạc cụ
này. Khi biểu diễn piano,

ông
thường có một người thợ đàn để cân chỉnh lưỡng từng sợi dây, từng nốt nhạc.



 






 




 



Năm 1836, Chopin gặp
nữ văn sĩ George Sanz.Thế là bắt đầu một cuộc tình kéo dài suốt 10 năm ròng rã.
Hai người trải qua những ngày hè cháy bỏng yêu đương ở Nohan, miền trung nước
Pháp. Giai diệu dào dạt, da diết tràn đầy tình yêu cuộc sống, thiên nhiên và con
người trong bản concerto giọng Si giáng thứ được ông ấp ủ vào mùa hè cháy bỏng
tình yêu này. Sau khi từ Malorca trở về, Chopin đã hoàn thành tác phẩm tuyệt vời
này. Toàn bộ bản concerto chứa chan nỗi khát khao, lòng nhiệt tình như ngọn lửa
rực cháy. Tính chất mạnh bạo khác thường trong kết cấu các chương của bản
concerto mà Choipin sử dụng  để hợp nhất thành một thể thống nhất gồm 4 phần,
dường như tương phản nhau. Bản nhạc khiến những người đương thời quen với thể
loại này cũng phải sửng sốt. Mỗi chương có một cuộc sống riêng đầy rạo rực nhưng
đều thấm đẫm một thứ tình cảm tràn trề.

Đó là
cảm giác về một cuộc đấu tranh căng thẳng, mãnh liệt. Ngay hợp âm đầu tiên đã
báo hiệu điều đó.

Đồng
thời những nét nhạc tương phản dữ dội lại hết sức hợp lý .Những giai điệu hợp lý
nhưng chứa đầy  ý nghĩa và tuyệt đối .Chính George Sanz đã nhận xét “bản
concerto tuyệt đẹp và nghe đau đớn như xé ruột “ Chương hai với những hồi ức
xiết bao sung sướng và xa xôi, khiến cho giai điệu tươi sáng ở đoạn giữa phần
Schetzo. Chương 3 trở lại giai điệu này và sau đó, gần như ở phần cuối,

âm nhạc
lại ngoái nhìn một lần nữa bức tranh phong cảnh thanh bình thời ấu thơ niên
thiếu.Tuyệt vọng, lo lắng và buồn rầu, những tình cảm đó, Chopin không bao giờ
thể hiện trong Âm nhạc mặc dù những năm đó,Chopin mắc bệnh lao. Nhạc sĩ người
Đức Medelssohn thốt lên “Chopin là cả một lò lửa.

Ông
nung nóng chảy tất cả những gì mà cuộc sống ban cho. Và ông ấy đã rút ra từ đó
kho báu hết sức quý giá”




 






 



 




 



  Suốt cả mùa đông
hai năm 1838-1839, George Sanz đưa ông đến đảo Balearet – vùng Marloca. Nàng hy
vọng rằng với sóng gió,nắng biển và bầu trời trong xanh, Chopin sẽ sớm khỏi
bệnh, song vô vọng. Thời gian này Chopin đã sáng tác 25 bản prelude và các bản
marzurka. Năm 1843, nhạc sĩ Liszt hết sức thán phục và nói “khác với Chistopher
Columb, cậu đã phát hiện ra, không phải một thế giới má là nhiều thế giới”




 



  Thời gian Chopin
mắc bệnh nặng,

ông
thay đổi nhiều, sức khỏe giảm sút, yếu đi rất nhanh. Năm 1844, khi vào tuổi 34,
Chopin sáng tác bản polonaise giọng Fa giáng thứ. Đó là bản polonaise ảm đạm
nhất trong các bản polonaise nổi tiếng của ông. Giới phê bình âm nhạc thế giới
đặt tên là “Hành khúc tang lễ “. Tác phẩm súc tích toát lên nỗi đau thương vô
hạn. Song âm hưởng của khúc nhạc cũng gợi lên trong lòng người niềm xúc động sâu
thẳm nuôi dưõng tinh thần và dấn bước đi lên vượt qua những mất mát đau thương.
Bản nhạc không có đoạn kết hân hoan, thực ra mỗi bản nhạc trong thể loại này
đáng giá bằng một bản concerto hoặ sonate. Thậm chí, khi tác phẩm khép lại thì
cùng lúc mở ra cả một thế gíới âm nhạc đồ sộ.

Đôi khi
người ta ví nó như những giao hưởng tầm cỡ




 



   Những bản mazurka
của Frederich Chopin thực sự là những bức tranh xinh xắn, những bức họa bằng
những âm thanh mỹ lệ. Mỗi bản nhạc chứa đầy mầu sắc lung linh huyền diệu, giới
phê bình âm nhạc đương đại đánh giá là cuốn” bách khoa toàn thư” âm nhạc về
những tình cảm của con người. Đặc biệt, thể loại étude, trước thời Chopin vốn là
những bài tập cho người nghệ sĩ  trên cây đàn piano, nhưng đến khi qua bàn tay
kỳ diệu của Chopin hầu hết  các étude đã trở thành những tác phẩm âm nhạc đích
thực. Giá trị của nó cũng sánh ngang với bất cứ thể loại âm nhạc nào, trước đó
và sau này.




 



 



 




 



Trái tim nằm trong
lòng đất mẹ   




 



Những năm sống ở
Paris cho đên ngày cuối đời, đối với Chopin là những năm tháng dài dằng dặc.
Nhất là những ngày mùa thu và đông giá lạnh, khi dịch cúm hoành hành dữ dội. năm
1845, khi Chopin 38 tuổi, sau 17 năm sống  ở Paris, ông quyết định chuyển sanhg
sống ở London. Âm nhạc của ông lập tức được gười dân Anh quốc đón nhận và yêu
thích. Công chúng ở xứ sở sương mù đón nhận những bản nhạc viết cho đàn piano
của nhạc sĩ thiên tài người Ba Lan như những dòng suối tuôn trào không bao giờ
cạn.Sống giữa thủ đô nước Anh ảm đạm,

ẩm ướt
và khó chịu,nhưng Chopin vẫn phải vừa dạy đàn piano, vừa biểu diễn để kiếm sống.
Quả thật ở đây,

ông
không làm sao có cảm hứng mà sáng tác nổi một dòng nhạc dù là nhỏ nhất.Trái tim
ông vẫn hằng mơ về Paris,về những cánh rừng,những ngày hè chan hòa ánh nắng.
Nhất là lòng ông không sao nguôi ngoai nỗi nhớ về chuỗi ngày sống tràn đầy yêu
thương  với bạn bè và những người thân thiết. Cuối cùng,nỗi mong nhớ Paris đã
buộc nhạc sĩ rời bỏ London, vĩnh viễn không bao giờ trở lại đất nước ảm đạm, dầy
đặc sương mù, luôn thiếu ánh mặt trời và những nụ cười.



 






 



 




 



Trở lại nước Pháp,
nhưng Chopin vẫn không sao quên được nỗi lo sợ bị chôn sống luôn ám ảnh tâm trí.
Amadeus Mozart mất năm 36 tuổi, Franz Schubert chết sớm hơn, vào tuổi 31.Còn
Ludwig van Beethoven cuộc sống kéo dài hơn 50 năm. Những năm cuối cuộc đời đối
với nhạc sĩ thiên tài thật nặng nề, khủng khiếp.

Ông
chiến đấu với bệnh điếc cùng những nỗi bất hạnh triền miên. Còn Johan S. Bach,
mặc dù sống đến già nhưng cuộc sống hoàn toàn cách biệt với thế giới bởi mắt
hoàn toàn bị mù. Frederich Chopin thường bị ám ảnh trước những số phận tài danh
bạc mệnh ấy. Những ngày cuối đời,

ông
sống ở Paris hoàn toàn cô đơn,cách biệt. Bản polonaise cuối cùng của nhạc sĩ
chính là lời từ biệt cuộc đời. Bản nhạc này toát lên những cảm xúc mỏng manh,
nhẹ nhàng, tựa như 1 hơi thở, một làn gió.



 



(ST)



#12 tonami

tonami

    Free like the wind

  • Super moderator
  • 3068 bài viết
  • Yahoo:
  • Facebook:https://www.facebook.com/caovuong
  • Giới tính:Nam
  • Nơi ở:Vietnam
  • Sở thích:Freedom, Peace & Love

Achievements

                             

User's Awards

              

Đăng vào: 15 February 2005 - 10:37 AM





Johannes Brahms –





Người biểu đạt hoàn hảo tâm hồn thời đại



 






 



 



Trên bầu trời nghệ
thuật thế giới nửa sau thế kỷ 19, âm nhạc của Johannes
Brahms,
với vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung di sâu sắc
của tâm hồn, như một chòm sao rực ráng. Ông là người tiếp nối
các truyền thống hiện thực cổ điển và “làm giàu” chúng
bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của
Johannes Brahms vừa đầy chất triết học trữ tình đặc trưng của
Bach
vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và bạo
liệt theo tinh thần Beethoven, nhưng cũng đậm nỗi lo âu
về số phận của con người hiện đại.



 






 



Brahms sinh ngày
7/5/1833 tại thành phố cảng Hamburg, miền Bắc nước Đức, là con
thứ trong gia đình một nhạc sĩ nghèo, dòng dõi thị dân, thổi
lute, flute, kèn cor, chơi contrebasse trong các nhà hàng hạng
hai và hộp đêm của Hamburg. Chính Brahms nói về thời thơ ấu của
mình: “Chẳng có mấy ai sống khổ như tôi”. Năm 13 tuổi,
Brahms phải kiếm sống bằng âm nhạc, chơi piano trong các hộp đêm
với bố và sáng tác các tiểu phẩm salon. Năm 1853, Brahms rời bỏ
Hamburg đi lưu diễn khắp đất nước cùng nghệ sĩ violin – nhà cách
mạng người Hungary – E.Remenyi và qua đó có dịp gặp Liszt
tại Weimar. Lúc này Liszt đã sừng sững như một tượng đài
âm nhạc thế giới, nhưng chỉ mới vài ngày Brahms đã ngộ ra rằng
giữa ông và nhà soạn nhạc vĩ đại người Hungary không thể có
“điểm tiếp xúc”
nào cả. Khát vọng nghệ thuật của Liszt vì
một thứ âm nhạc có chương trình trong đó nội dung và hình thức
được xác định bằng hình tượng văn học quá xa lạ với Brahms.

Nhưng sau đó ông đã gặp Schumann tại Duesseldorfs và cuộc
gặp này đã tạo ra bước ngoặt trong cuộc đời của Brahms. Đang bị
cơn bệnh tâm thần hành hạ, nhà soạn nhạc Đức nổi tiếng Schumann
sửng sốt trước tài năng độc đáo của chàng nhạc sĩ 20 tuổi vô
danh đến nỗi đã viết bài báo cuối cùng của mình (sau 10 năm ông
đã gác bút) với nhan đề “Con đường mới” trên tạp
chí âm nhạc do ông sáng lập. 20 năm trước đó, Schumann là người
đầu tiên viết về Chopin và bây giờ ông là người đầu tiên viết về
Brahms. Ông gọi Brahms là “Bậc thầy biểu đạt hoàn hảo tâm hồn
thời đại”
. Bài báo của Schumann đã đưa tên tuổi Brahms đi
khắp thế giới.



 






 



Năm 1862, đau lòng vì
không tìm được một mái nhà nghệ thuật vững chắc cho riêng mình ở
thành phố quê hương Hamburg, Brahms rời bỏ Tổ quốc sang sống ở
Vienna, khi ấy được coi là thủ đô âm nhạc của thế giới. Ở
Vienna, Brahms trở thành chủ tướng của những người “chống
lại”
Liszt và Wagner trong cái gọi là cuộc chiến giữa hai
trường phái “Leipzig” và “Weimar”. Thậm chí cả Hans
Von Bulow,
học trò lỗi lạc của Liszt và là bạn của Wagner,
cũng nhảy sang phe Brahms. Bulow gọi Bản giao hưởng số 1
của Brahms (viết năm 1876) là “bản giao hưởng thứ 10 của
Beethoven”.
Đó là một lời nói hơi thậm xưng, nhưng nó thể
hiện quan điểm của giới âm nhạc nửa cuối thế kỷ 19: Tên tuổi
Brahms được đặt cạnh tên của Beethoven và Bach - thần tượng của
ông.
Cuối đời Brahms đã nói một câu nổi tiếng: “Có 2 sự kiện
lớn nhất đời tôi – đó là sự thống nhất nước Đức và việc xuất bản
tuyển tập tác phẩm của Bach”.



 






 



10 năm ở Vienna là
thời kỳ sáng tạo của Brahms đạt tới đỉnh cao huy hoàng. Trừ
opera và âm nhạc theo chương trình, ông đã viết đến 380 tác phẩm
thanh nhạc, 3 sonata, 5 biến tấu, 5 ballad, 3 rhapsody ... cho
piano, 3 sonata cho violin, 2 sonata cho cello và nhiều tác phẩm
Tam tấu, Tứ tấu, Ngũ tấu ... trong đó có nhiều tuyệt tác như
Biến tấu theo chủ đề của Paganini (A-moll), Quintet cho piano
(F-moll), Sonata số 3 cho violin, Concerto số 2 cho piano
(B-dur)
- một “giao hưởng” 4 chương độc đáo có phần solo của
piano. Đặc biệt với các tác phẩm giao hưởng, Brahms trở
thành một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của lịch sử âm nhạc
thế giới thế kỷ 19. Giữa lúc hệ thống tư duy giao hưởng lãng mạn
tưng bừng lên ngôi, ông đã đẩy tới sự hoàn chỉnh những nguyên
tắc của chủ nghĩa cổ điển trong các thể tài giao hưởng. Đây
chính là sự độc đáo và cống hiến lịch sử của Brahms. Thế nhưng,
không giống những hậu bối của Mendelssohn máy móc rập
khuôn các quy luật cấu trúc và hình thức xưa cũ, Brahms sử dụng
các thủ pháp giao hưởng cổ điển một cách sáng tạo để thể hiện
một thế giới hình tượng lãng mạn, những tình cảm hiện đại, chất
thơ, chất phóng túng của âm nhạc. Đương thời một nhà phê bình đã
nói “Brahms cảm nhận bằng đầu và tư duy bằng trái tim”.



 






 



Bốn bản giao hưởng
của Brahms đưa ông đến những đỉnh cao nhất của âm nhạc giao
hưởng thời kỳ sau Beethoven. Giao hưởng số 4 (E-moll) kể
về các khúc ngoặt bi thương của cuộc sinh tồn đầy kịch tính và
tinh thần bất khuất, thuộc số những tác phẩm độc đáo và hoàn mỹ
nhất của Brahms.
Bản
Concerto cho violin (D-dur)
là một trong những concerto hay
nhất thế giới viết cho violin. Brahms nói: “Sáng tác đẹp như
Mozart thì chúng ta chịu, nhưng ít nhất phải cố viết được tinh
khiết như ông”.
Vấn đề không chỉ liên quan về kỹ thuật mà
còn liên quan đến cả vẻ đẹp thẩm mỹ nội dung âm nhạc Mozart.
Nhạc của Brahms phức tạp, xung động hơn nhạc của Mozart, như
thời đại ông với thời đại của Mozart. Nhưng Brahms theo đuổi tín
điều này, vì toàn bộ hoạt động sáng tạo của ông được đặc trưng
khát vọng vươn tới những lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp.



 






 



Vinh quang dồn dập đến với
Brahms. Ông được tặng huân chương Leopold của hoàng đế nước Áo,
viện sĩ Viện hàn lâm Nghệ thuật Berlin, học vị tiến sĩ của Đại
học Cambridge, Đại học Breslau, công dân danh dự của thành phố
Hamburg ... Ông cũng đã yêu vài người đàn bà, kể cả Clara
Schumann,
nhưng chưa bao giờ lấy vợ. Cuối đời Brahms sống cô
độc, tránh xa đám đông. Chuyện rằng, chủ nhân một cuộc tiếp
khách trọng thể muốn lấy lòng ông, đưa trước Brahms danh sách
khách mời và đề nghị ông gạch tên bất cứ ai ông không thích,
Brahms đã lấy bút gạch ... tên mình !

Brahms mất ngày 3/4/1897 tại Vienna vì ung thư gan.



(Sưu tầm)






0 người đang đọc chủ đề này

0 thành viên, 0 khách, 0 người xem ẩn danh

dd
Giao lưu kết bạn Mảnh đất tình yêu Thế giới giải trí Hình ảnh đẹp Văn hóa nghệ thuật Học hỏi, trao đổi Âm nhạc


Copyright © 2017 Your Company Name